Bối cảnh mới cần những động lực tăng trưởng mới
Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo nền tảng quan trọng để bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát triển cũng bộc lộ những hạn chế, điểm nghẽn cần được tháo gỡ, trong khi bối cảnh quốc tế và yêu cầu phát triển trong nước đang đặt ra những nhiệm vụ mới, đòi hỏi phải có bước chuyển mạnh mẽ về tư duy, mô hình và phương thức phát triển.
Đây là một trong những nội dung có ý nghĩa chiến lược được Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV thảo luận, thống nhất khi xem xét và thông qua Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

Giải quyết thủ tục hành chính cho người dân tại xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Ảnh: Phạm Hùng
Thành tựu quan trọng tạo nền tảng cho chặng đường phát triển mới
Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đánh giá, qua 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực.
Từ một nền kinh tế còn nhiều khó khăn, quy mô nhỏ, cơ chế quản lý tập trung bao cấp, Việt Nam đã từng bước hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hội nhập quốc tế, khai thác hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, tiềm lực quốc gia được nâng cao, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Những thành tựu trong công cuộc đổi mới không chỉ thể hiện ở các chỉ số phát triển kinh tế, mà còn ở sự thay đổi căn bản diện mạo đất nước. Kết cấu hạ tầng được đầu tư ngày càng đồng bộ; các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, an sinh xã hội đạt nhiều kết quả tích cực; tỉ lệ hộ nghèo giảm mạnh; vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao.
Từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế có độ mở cao, tham gia sâu rộng vào các chuỗi giá trị toàn cầu, thiết lập quan hệ đối ngoại rộng mở với nhiều đối tác quan trọng. Những thành tựu đó tạo ra thế và lực mới, củng cố niềm tin, khát vọng phát triển và khả năng thích ứng của đất nước trong môi trường quốc tế nhiều biến động.
Đặc biệt, 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đã tạo ra những chuyển biến quan trọng về tư duy phát triển. Từ quan niệm phát triển chủ yếu dựa vào mở rộng nguồn lực vật chất, Việt Nam từng bước chuyển sang chú trọng hơn đến chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát huy nguồn lực con người.
Những thành tựu của 40 năm đổi mới là cơ sở quan trọng để Việt Nam đặt ra những mục tiêu phát triển cao hơn trong giai đoạn tới, hướng tới xây dựng đất nước phát triển, thu nhập cao, xã hội văn minh, hiện đại vào năm 2045.
Những hạn chế và yêu cầu đổi mới mô hình phát triển
Bên cạnh những thành tựu đạt được, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV cũng thẳng thắn nhìn nhận quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm so với yêu cầu đặt ra. Một số động lực tăng trưởng chưa thực sự bền vững; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn những hạn chế; năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu có hàm lượng công nghệ cao chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển mới.
Mô hình tăng trưởng trong một thời gian dài vẫn còn dựa nhiều vào việc huy động các nguồn lực truyền thống như: Vốn, lao động, khai thác tài nguyên, trong khi những động lực mới từ khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức chưa phát huy đầy đủ tiềm năng.
Bên cạnh đó, một số điểm nghẽn về thể chế, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng, năng lực quản trị và tổ chức thực hiện vẫn là những vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Có những chủ trương đúng đắn nhưng quá trình triển khai ở một số nơi còn chậm, thiếu đồng bộ; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa thật sự hiệu quả; một số nguồn lực xã hội chưa được khơi thông để phục vụ phát triển…
Những hạn chế này càng trở nên rõ hơn trong bối cảnh thế giới đang có những biến đổi sâu sắc. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, sự điều chỉnh của chuỗi cung ứng toàn cầu, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, biến đổi khí hậu, các thách thức an ninh phi truyền thống… đang tạo ra những yêu cầu mới đối với mọi quốc gia.
Đối với Việt Nam, mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới, quyết liệt hơn trong đổi mới mô hình phát triển.
Nếu không tạo ra những bước chuyển mạnh mẽ về thể chế, công nghệ, nguồn nhân lực và năng lực quản trị, những lợi thế truyền thống sẽ dần suy giảm, trong khi các yêu cầu phát triển mới ngày càng cao hơn.
Định hướng phát triển dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo
Từ những đánh giá đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV xác định yêu cầu đổi mới mô hình phát triển Việt Nam trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về chính sách kinh tế, mà là sự thay đổi mang tính tổng thể về tư duy phát triển, phương thức quản trị và cách thức huy động nguồn lực.
Trọng tâm của đổi mới mô hình phát triển là chuyển mạnh sang phát triển dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực. Con người phải trở thành trung tâm, đồng thời là chủ thể và nguồn lực quan trọng nhất của quá trình phát triển.
Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển theo hướng hiện đại, minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân phát huy năng lực sáng tạo và tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển đất nước.
Cùng với đổi mới mô hình tăng trưởng, yêu cầu cấp thiết là cần tiếp tục phát triển các động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị nhà nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khoa học - công nghệ không chỉ được xem là lĩnh vực hỗ trợ, mà phải trở thành lực lượng sản xuất quan trọng, tạo ra năng suất và sức cạnh tranh mới.
Một yêu cầu quan trọng khác là phải quản trị tốt hơn các nguồn lực phát triển. Đất đai, tài nguyên, không gian biển, hạ tầng, dữ liệu quốc gia và nguồn lực xã hội cần được khai thác hiệu quả, gắn với mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững.
Đồng thời, phát triển kinh tế phải gắn với bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa; bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là những yếu tố quyết định chất lượng phát triển trong giai đoạn mới.
Có thể thấy, đánh giá của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về chặng đường 40 năm đổi mới nhằm tổng kết những thành tựu đã đạt được, đặc biệt xác định rõ những vấn đề cần vượt qua để mở ra một giai đoạn phát triển mới.
Những thành tựu của 40 năm đổi mới là nền tảng vững chắc, nhưng không phải là điểm dừng. Bối cảnh mới đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn, với tư duy phát triển hiện đại hơn, năng lực quản trị tốt hơn và quyết tâm hành động cao hơn.
Từ nền tảng đã tạo dựng, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn mới là phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, khơi thông mọi nguồn lực, tạo ra những động lực tăng trưởng mới, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.





























