Bình Định - nơi hội tụ những dòng chảy của chữ

Nét độc đáo của văn hóa Bình Định (gồm 58 xã phường ở phía Đông của tỉnh Gia Lai ngày nay) là ba dấu son liên quan đến chữ viết: Quang Trung là vị vua đầu tiên cho dùng chữ Nôm thay chữ Hán trong toàn bộ văn bản hành chính cả nước. Bình Định là nơi khơi nguồn chữ Quốc ngữ.

Nhà thờ Làng Sông là nơi có một trong 3 nhà in chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Trải suốt mấy trăm năm, ba dấu son này như ba dòng sông lớn, vun bồi nên danh xưng “Miền đất võ, xứ văn chương”.

Quyết sách của Vua Quang Trung với chữ Nôm

Sau nghìn năm Bắc thuộc, người Việt không những không bị đồng hóa bởi chính sách cai trị hà khắc của kẻ thù phương Bắc, mà còn sáng tạo ra chữ Nôm, chữ viết riêng cho dân tộc mình. Đến thời Hồ Quý Ly (1400-1407), để canh tân đất nước, ông đã ban nhiều chủ trương chấn hưng văn hóa, trong đó có việc dịch các kinh, thi, thư từ chữ Hán ra chữ Nôm.

Bảo tàng Quang Trung ở Bình Định.

Bảo tàng Quang Trung ở Bình Định.

Ông cũng đã đích thân biên dịch thiên "Vô dật" từ chữ Hán ra chữ Nôm để dạy Vua Trần Thuận Tông, và làm sách "Quốc ngữ thi nghĩa" (giải thích "Kinh thư" bằng chữ quốc ngữ). Rất tiếc, thời gian trị vì quá ngắn, các chính sách canh tân của Hồ Quý Ly bị xóa bỏ. Tuy nhiên chữ Nôm vẫn được nhân dân sử dụng và ngày càng phát triển.

Sau khi lên ngôi, dẹp tan 29 vạn quân Thanh, Hoàng đế Quang Trung (1778-1801) đã ban hành nhiều chính sách canh tân đất nước, như: Chiếu Lập học, Chiếu Khuyến nông... và có nhiều cải cách ở mọi lĩnh vực. Chỉ 24 năm trị vì, ông đã để lại dấu ấn khá đậm nét trong lịch sử bằng việc ban hành qui định dùng chữ Nôm thay cho chữ Hán trong toàn bộ văn bản hành chính nước nhà; lập Viện Sùng chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, làm tài liệu học tập. Từ đó, chữ Nôm ngày càng được phát triển và trở thành chữ viết chính.

Sau khi Nguyễn Ánh đánh đổ nhà Tây Sơn, những gì liên quan đến Quang Trung - Nguyễn Huệ đều bị xóa bỏ, tuy nhiên chính sách dùng chữ Nôm thay chữ Hán không những được duy trì mà còn phát triển đến đỉnh cao với hàng loạt tác giả, tác phẩm văn học nổi tiếng: Nguyễn Du với "Truyện Kiều", "Văn tế thập loại chúng sinh", Nguyễn Đình Chiểu với "Lục Vân Tiên", Nguyễn Gia Thiều với "Cung oán ngâm khúc", Đoàn Thị Điểm với "Chinh phụ ngâm"... Có thể nói, tầm nhìn xa của vua Quang Trung không chỉ ở thiên tài quân sự, ông còn là một nhà văn hóa, nhà cải cách kiệt xuất của dân tộc.

Cơ duyên với chữ Quốc ngữ của quan trấn thủ Quy Nhơn

Đầu thế kỷ 17, khi các nhà truyền giáo phương Tây ở Thanh Chiêm, Hội An gặp khó khăn về nơi cư trú và địa bàn hoạt động, họ đã được quan trấn thủ Quy Nhơn Trần Đức Hòa đưa về, lập cư sở truyền giáo Nước Mặn, tạo mọi điều kiện, cho phép tự do hoạt động truyền giáo. Nước Mặn là cư sở truyền giáo đầu tiên ở Quy Nhơn, do linh mục Buzomi đảm nhiệm. Để thuận tiện cho việc giao tiếp với dân địa phương, linh mục Buzomi cùng hai linh mục Pina và Borri đã nghiên cứu, sáng tạo ra chữ Quốc ngữ.

Bằng tấm lòng nhân hậu, bao dung khi cưu mang các nhà truyền giáo, quan trấn thủ Quy Nhơn Trần Đức Hòa và địa danh Nước Mặn xứng đáng được tôn vinh cùng với những người sáng tạo ra chữ Quốc ngữ.

Sách "Tường trình về Khu Truyền giáo Ðàng Trong" viết bằng tiếng Ý của Christophoro Borri cùng 2 linh mục Francesco Buzomi và Francisco de Pina là cuốn sách đầu tiên xuất hiện chữ Quốc ngữ thuở sơ khai, viết vào những năm 1618 - 1622. Qua gần ba thế kỷ cải tiến, chữ Quốc ngữ mới được phổ biến rộng rãi, xuất hiện trên các sách báo, và trở thành văn bản hành chính nhà nước.

Tham gia phổ biến, truyền bá chữ Quốc ngữ phải kể đến Nhà in Làng Sông ở Bình Định, được Giám mục Eugène Charbonnier Trí thành lập năm 1868. Nhà in này là một trong ba nhà in chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam (cùng với Nhà in Tân Định ở sài Gòn, Nhà in Ninh Phú ở Hà Nội). Nhiều tờ báo, nhiều tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ được in ở đây. Riêng năm 1910, Nhà in Làng Sông đã có 36 đầu sách, trong đó có tới 25 đầu sách chữ Quốc ngữ.

Theo thống kê trong "Mémorial de Quy Nhơn" năm 1922, Nhà in Làng Sông đã in 18.000 tờ báo định kỳ, 1.000 bản sách các loại, 32.000 ấn phẩm khác, riêng Báo Lời thăm mỗi tháng hai số, mỗi số ra 1.500 bản và phát hành cả Đông Dương. Sau gần một thế kỷ hoạt động, Nhà in Làng Sông được xem là dấu mốc quan trọng trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ của nước nhà.

Có lẽ, từ chính sách coi trọng chữ Nôm của Vua Quang Trung, đến cơ duyên làm nên chữ Quốc ngữ của quan trấn thủ Quy Nhơn và các vị truyền giáo phương Tây đã vun bồi nên truyền thống trọng chữ, trọng nghĩa nhân của người Bình Định ngày sau. Và đây cũng là nét cơ bản hình thành nên bản sắc văn hóa của vùng đất Bình Định.

Miền đất võ, xứ văn chương

Trong nhiều năm gần đây, ở Bình Định xuất hiện danh xưng Đất võ - Trời văn hay Miền đất võ - Xứ văn chương. Đất thì rộng, trời thì mênh mông, nên Đất và Trời nghe kiêu hơn, nói quá hơn là Miền và Xứ. Nhưng cách nói nào cũng bày tỏ niềm tự hào về một vùng đất có truyền thống thượng võ, trọng chữ, trọng nghĩa nhân.

Võ thì có bao lớp truyền nhân từ thời Tây Sơn. Đến nay, Võ cổ truyền Bình Định đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và đã được Chính phủ đồng ý trình Tổ chức UNESCO xem xét, đưa vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Còn văn? Ngoài hai danh nhân, nhà thơ, nhà viết kịch kiệt xuất: Đào Duy Từ và Đào Tấn (một tiền tổ và một hậu tổ) của hát bội Bình Định còn có rất nhiều tiền nhân, những văn nghệ sĩ làm nên sự khác biệt đến độc đáo của xứ này.

Bình Định - Miền đất võ, xứ văn chương. Ảnh Dũng Nhân.

Bình Định - Miền đất võ, xứ văn chương. Ảnh Dũng Nhân.

Nếu chỉ tính từ khi ra đời phong trào Thơ mới 1932- 1945, Bình Định đã nổi danh với nhóm thơ Bàn Thành Tứ Hữu: Chế Lan Viên, Yến Lan, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn. Chế Lan Viên sinh ở Quảng Trị, năm lên 7 đã cùng gia đình vào sống ở An Nhơn; Hàn Mặc Tử sinh ở Đồng Hới, Quảng Bình, năm 18 tuổi, cha mất đã cùng mẹ vào sống ở Bình Định. Quách Tấn sinh ở làng Trường Định, huyện Tây Sơn, làm công chức ở Nha Trang. Còn Yến Lan sinh sống ở An Nhơn.

Bằng tình yêu quí, trọng liên tài, trọng chữ, các nhà thơ đã kết với nhau thành một nhóm, gọi là 4 người bạn của thành Đồ Bàn hay còn gọi là Bàn Thành Tứ Hữu. Đây là nhóm thơ Bình Định lẫy lừng thời Thơ mới, trong đó: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan đều là những cây bút cách tân ráo riết, chỉ riêng Quách Tấn vẫn kiên trì với thơ cổ, và ông là “đại diện xuất sắc cuối cùng” của thơ Đường.

Họ lấy An Nhơn, nơi Yến Lan và Chế Lan Viên sinh sống làm nơi gặp gỡ, trao đổi, nuôi dưỡng xúc cảm. Để rồi năm 17 tuổi, Chế Lan Viên công bố tập thơ “Điêu tàn” viết về dân tộc Chàm, được giới sáng tác đánh giá “như một niềm kinh dị”; Yến Lan hoàn thành bản thảo tập thơ "Giếng Loạn", Hàn Mặc Tử viết xong tập thơ "Gái quê" rồi bỏ cuộc chơi khi vừa 29 tuổi. Đây cũng là độ tuổi Quách Tấn công bố tập thơ đầu tay: "Một tấm lòng" xuất bản năm 1939.

Trừ Quách Tấn, những người bạn thơ còn lại đi xa hơn khi tiến tới hình thành Trường thơ Loạn có tuyên ngôn là lời bạt cho tập “Điêu tàn” của Chế Lan Viên, do Hàn Mặc Tử viết. Do chiến tranh, nên Trường thơ Loạn chỉ tồn tại mấy năm, nhưng đã ghi vào văn học sử nước nhà.

Cách mạng tháng Tám, rồi chín năm kháng chiến chống Pháp, 20 năm chiến tranh thống nhất đất nước... các nhà văn nghệ sĩ Bình Định cũng phải chịu chung số phận của dân tộc, bị chia cắt kẻ Nam người Bắc. Hai nhà thơ Yến Lan và Chế Lan Viên của nhóm Bàn Thành Tứ Hữu cùng nhiều các văn nghệ sĩ khác xuống tàu tập kết ra Bắc, hoặc tham gia kháng chiến, sau này trở thành những trụ cột của văn học Bình Định và cả nước: Xuân Diệu, Mịch Quang, Phạm Hổ, Vũ Ngọc Liễn, Văn Trọng Hùng, Lệ Thu, Cao Duy Thảo, Võ Sĩ Thừa, Đình Bôi…

Những người ở lại miền Nam: Quách Tấn, Phạm Văn Ký, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Mộng Giác, Tràng Thiên, Lê Vĩnh Hòa, Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Văn Hiên, Trần Long Ấn, Lê Duy Hạnh... Khi nước nhà thống nhất, nhiều người về lại Bình Định, xây dựng quê hương; cũng có người sống ở nơi khác. Dù ở bất cứ đâu, tấm lòng của văn nghệ sĩ Bình Định vẫn luôn hướng về quê hương với nhiều tác phẩm lớn.

Có thể nói, truyền thống trọng chữ, trọng nghĩa nhân như những dòng sông lớn, miệt mài vun dưỡng tài năng, nguyên khí; vun dưỡng cốt cách, tâm hồn của danh xưng Bình Định: Miền đất võ - Xứ văn chương.

Mai Thìn

Nguồn VNCA: https://vnca.cand.com.vn/doi-song-van-hoa/binh-dinh-noi-hoi-tu-nhung-dong-chay-cua-chu-i796933/