Những năm Ngọ vẻ vang trong lịch sử dân tộc

Trong lịch sử dân tộc ta, những năm Ngọ ghi dấu ấn đậm nét trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Xuân Bính Ngọ 2026 đã về. Trong tiết trời ấm áp đầu năm mới, chúng ta cùng nhau ôn lại những năm Ngọ vẻ vang, đáng nhớ của dân tộc.

Năm Canh Ngọ (550): Triệu Quang Phục giành lại quyền tự chủ đất nước

Từ sau khi Nhà nước Vạn Xuân được thành lập, chính quyền phong kiến phương Bắc không ngừng tìm cách đánh phá để thống trị nước ta. Năm 550, vua nhà Lương cho Trần Bá Tiên giữ chức Thứ sử Giao Châu tiếp tục đàn áp dân ta. Tuy nhiên, do trong nước có loạn Hầu Cảnh (548 - 552), vua Lương phải gọi gấp Trần Bá Tiên đem quân về ứng cứu. Ở Giao Châu chỉ còn Dương Sàn chỉ huy quân sĩ đương đầu với Triệu Việt Vương. Nhân cơ hội ấy, tháng Giêng năm Canh Ngọ (550), Triệu Quang Phục đem quân phản công, lấy được thành Long Biên và giành lại quyền tự chủ trên toàn đất nước.

Năm Bính Ngọ (766): Khởi nghĩa Phùng Hưng

Năm 766, Phùng Hưng, người ở quận Đường Lâm (nay thuộc Sơn Tây, Hà Nội), do căm ghét chính sách thống trị của quan lại nhà Đường và nhân lòng căm phẫn của Nhân dân đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ nhà Đường. Phùng Hưng đem quân vây đánh thành Tống Bình (Hà Nội) khiến quân tướng nhà Đường hoảng sợ, đại bại và rút khỏi nước ta. Phùng Hưng lên cầm quyền lãnh đạo đất nước.

Năm Nhâm Ngọ (1042): Vua Lý Thái Tông cho biên soạn và ban hành Bộ luật Hình thư

Đây là bộ luật thành văn đầu tiên ở nước ta. Bộ luật Hình thư ra đời là một sự kiện vô cùng quan trọng của lịch sử pháp quyền Việt Nam. Nó chứng tỏ nhà nước Trung ương tập quyền đã có tính chất tương đối ổn định. Việc ban hành luật pháp bằng văn bản đã đánh dấu sự phát triển vượt bậc, một trình độ văn minh cao trong tổ chức và quản lý xã hội ở triều Lý.

Năm Giáp Ngọ (1054): Nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt

Ngày mồng 1 tháng 10 năm Giáp Ngọ (1054), Vua Lý Thái Tông mất, Thái tử Nhật Tôn lên ngôi kế vị (tức Lý Thánh Tông). Vua Lý Thánh Tông cho đổi tên nước là Đại Việt (tên trước là Đại Cồ Việt).

Năm Mậu Ngọ (1258): Kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất thắng lợi

 Bức tranh mô tả vua Trần Thái Tông chỉ huy binh sĩ đánh tan giặc Nguyên - Mông lần thứ nhất.

Bức tranh mô tả vua Trần Thái Tông chỉ huy binh sĩ đánh tan giặc Nguyên - Mông lần thứ nhất.

Năm 1258, nhà Nguyên đưa 3 vạn kỵ binh, bộ binh chia quân làm hai cánh theo đường sông Hồng tiến đánh Đại Việt. Vua Trần Thái Tông cử Trần Quốc Tuấn đưa quân lên mạn biên giới án ngữ địch và tổ chức tuyến phòng ngự ở Bình Lệ Nguyên (phía Nam Phú Thọ ngày nay).

Trước thế giặc đang mạnh, vua Trần quyết định lui quân về phía Nam, bảo toàn lực lượng. Sau đó triều đình chủ trương rời khỏi Thăng Long thực hiện kế sách “vườn không nhà trống”. Quân Nguyên - Mông dù không gặp phải sự kháng cự nào nhưng càng ở lâu trong thành Thăng Long càng thiếu lương thực, tinh thần dao động. Thừa cơ đến, vua tôi nhà Trần đã ngược sông Hồng tổ chức trận phản công quyết liệt ở Đông Bộ Đầu. Bị đánh bật ra khỏi kinh thành, quân giặc tháo chạy ngược theo sông Hồng về phía Bắc.

Năm Nhâm Ngọ (1282): Hội nghị Bình Than

Sau thất bại lần thứ nhất, quân Nguyên - Mông lại rắp tâm xâm lược nước ta lần thứ 2. Trước tình thế vận mệnh đất nước lâm nguy, vào tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1282), nhà Trần mở hội nghị Bình Than bàn kế chống quân xâm lược.

 Trần Quốc Toản vì còn trẻ tuổi nên không được dự hội nghị Bình Than đã bóp nát quả cam vua ban.

Trần Quốc Toản vì còn trẻ tuổi nên không được dự hội nghị Bình Than đã bóp nát quả cam vua ban.

Ở hội nghị này, Vua Trần Nhân Tông và Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã trao quyền Tổng chỉ huy quân đội cho Trần Quốc Tuấn; Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân. Chính tại hội nghị này, Trần Quốc Toản vì còn trẻ tuổi nên không được dự đã bóp nát quả cam vua ban đang cầm trong tay rồi về tập trung hơn 1.000 gia nô tụ nghĩa dưới cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân” tham gia kháng chiến.

Năm Bính Ngọ (1426): Chiến thắng Tốt Động - Chúc Động

Nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đại thắng quân Minh ở Tốt Động - Chúc Động (thuộc Chương Mỹ, Hà Nội). Trận đánh diễn ra từ sáng ngày 7/11/1426. Cánh quân chính của nhà Minh do Vương Thông chỉ huy hành quân theo đội hình kéo dài. Trong trận đánh này, hơn 5 vạn quân Minh bị tiêu diệt, 1 vạn bị bắt sống. Thắng lợi đã tạo tiền đề cho cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc của Nhân dân ta lên giai đoạn phát triển mới.

Năm Bính Ngọ (1786): Chấm dứt thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh

Sau khi đánh tan 5 vạn quân Xiêm và đuổi Nguyễn Ánh khỏi đất Gia Định, Nguyễn Huệ được Nguyễn Nhạc giao nhiệm vụ chỉ huy quân Tây Sơn tiến đánh quân Trịnh ở Phú Xuân (Huế). Sau thắng lợi ở Phú Xuân, Nguyễn Huệ tiến quân ra Đàng ngoài. Quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ đã đánh bại các đạo quân họ Trịnh rồi thẳng tiến ra Thăng Long. Chúa Trịnh (bấy giờ là Trịnh Khải) thua trận, trốn chạy rồi bị bắt. Ngày 21/7/1786, Nguyễn Huệ kéo quân vào Thăng Long, lật đổ chính quyền họ Trịnh và từ đây đất nước ta chấm dứt thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài gần 300 năm.

Năm Canh Ngọ (1930): Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngày 3/2/1930 (mồng 5 Tết Canh Ngọ), Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản tổ chức Hội nghị hợp nhất Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, thành một Đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời mở ra một bước ngoặt lịch sử đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Năm Giáp Ngọ (1954): Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

Kể từ chiều ngày 13/3/1954, sau 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt”, quân đội ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngày 7/5/1954, tướng De Castrie và bộ tham mưu của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị quân ta bắt sống. Trong chiến dịch này, toàn bộ 16.000 quân Pháp ở Điện Biên Phủ bị quân ta tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh.

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” dẫn đến việc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève (21/7/1954) về lập lại hòa bình ở Việt Nam. Sau đó, vào ngày 10/10/1954, bộ đội ta tiến về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

Ngoài ra, còn nhiều năm Ngọ khác đã ghi khắc thành tựu, dấu ấn lịch sử không thể nào quên của đất nước như: Năm Bính Ngọ (1966), quân dân cả hai miền Nam, Bắc nước ta đã lập nhiều chiến công lớn, miền Nam đánh tan chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, miền Bắc bắn rơi nhiều máy bay của không lực Hoa Kỳ; năm Mậu Ngọ (1978), chiến tranh bảo vệ biên giới Tây - Nam thắng lợi; năm Canh Ngọ (1990), cuộc đổi mới đất nước liên tiếp giành nhiều thành tựu... Tự hào biết bao về những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam ta mà trong đó có những mốc son sáng chói ở năm Ngọ.

Anh Khoa (tổng hợp)

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/nhung-nam-ngo-ve-vang-trong-lich-su-dan-toc-postid438789.bbg