Bài học sử quê nhà
Cô giáo Ngọc Trang khép vạt áo dài màu khói vờn trong gió nhẹ và nắng sớm mai mong manh tan loãng trên đồi cao. Cô khoác vòng tay, đám trò nhỏ ngồi vây quanh cô, trên mặt một lô cốt đúc ngầm vào sườn đồi. Cô nhìn những gương mặt ngây thơ, chất phác đang háo hức chờ đợi cô giảng dạy bài học sử quê nhà của các em trong buổi đi dã ngoại.

Minh họa: Lý Long
Giọng cô trầm xuống, gợi mở và lật tìm về một thời gian khó nhiều mất mát nhưng hào hùng…
* * *
…Tiếng chuông chùa Minh Sơn loang trong chiều tà cô tịch làm cảnh vật tăng thêm vẻ u ám và hoang tàn. Theo lệnh từ đồn Hoa Mai, nhà nhà cửa đóng then gài khi màn đêm vừa buông xuống, chỉ có việc thật cần kíp mới được phép ra đường nhưng phải mang theo đuốc dầu chai hay ngọn đèn bão có bốn mặt kính. Bọn lính trên đồn thường giả trang, phục kích cán bộ và bộ đội Việt Minh từ trong căn cứ bên kia những động cát trở về hoạt động. Bọn hội tề được củng cố, ra sức chỉ điểm, bắt bớ những người dân yêu nước.
Trong chánh điện chùa Minh Sơn, ngọn đèn dầu leo lét, gương mặt tượng Thích Ca Mâu Ni đăm chiêu nhập nhòa trong đêm. Còn trong căn phòng tối om vì tiết kiệm dầu thắp, sư cụ đã thiếp ngủ trên tấm ván gỗ dày lên nước bóng loáng.
Đã hơn nửa đêm, trăng lưỡi liềm treo chếch trên ngọn tháp Chăm hoang phế. Tiếng gió lòn qua những khe gạch vỡ, nghe như tiếng thở dài phát ra từ lồng ngực u uất lên bổng xuống trầm vương vất trong không gian. Sư cụ đã bao đêm mất ngủ vì nhiệm vụ chưa hoàn thành.
* * *
Sư cụ xuống núi theo con đường quanh co lởm chởm đá. Khi lập đồn trên ngọn đồi, bọn lính rào kẽm gai chỉ chừa một ngã đường duy nhất lên chùa, vòng rào chạy tận sát chân ngọn tháp Chăm. Ngọn tháp và ngôi chùa nằm trong tầm hỏa lực của khẩu đại liên phủ bạt đặt trên một nóc lô cốt giữa các lớp bao chứa đầy cát. Xuống tới chân núi, sư cụ theo con đường lớn giữa làng đi về hướng biển, thỉnh thoảng sư cụ chắp tay niệm A Di Đà Phật đáp lại chào hỏi của mọi người. Sư cụ vào nhà một người thợ tên là Bốn. Trước kia, bác Bốn có thời gian bị bắt làm thợ xây lầu Hoa Mai, lầu này sau một thời gian bỏ hoang, quân Pháp cải tạo thành đồn Hoa Mai, một căn cứ quân sự nằm trên đồi cao khống chế cả vùng rộng lớn.
Uống từng ngụm trà nóng từ chiếc tách sứ, sư cụ đăm chiêu nhìn làn khói mỏng. Sư cụ nói nhỏ nhẹ như sợ người thứ ba nghe được câu chuyện, dù bác Bốn đã kín đáo ra hiệu cho vợ mang tay lưới ra ngồi đan ngay bậc cửa, đề phòng có khách vào nhà.
- Tổ chức ra lệnh vẽ sơ đồ đồn Hoa Mai. Chỉ có chú là biết rành rẽ đường đi lối lại trong đồn. Nhiệm vụ của chú là vẽ lại mọi chi tiết trong tòa biệt thự, từ các lối đi, phòng ốc, hầm chứa nước mưa... Còn hệ thống phòng thủ sau khi chúng biến biệt thự thành đồn ta sẽ tìm cách xâm nhập sau.
Về đến chùa, sư cụ thấy Thông Đa đang đứng nấp sau cây cột, còn người lạ ngồi trên bậc cấp mặc bộ đồ ka ki vàng. Đó là một người lính da đen.
- Chào ông sư.
- A Di Đà Phật.
Sư cụ chắp hai tay trước ngực chào khách theo phép con nhà Phật. Nó đã đánh hơi được điều gì nên đến đây dò xét? Sư cụ nhủ mình phải hết sức điềm tỉnh và thận trọng.
- A Di Đà Phật, mời ông vào chùa uống trà.
Sư cụ khoan thai bước vào gian tiếp khách. Người lính chậm rãi theo sau, hắn có vẻ trầm tư chớ không hống hách, ngang ngược như nhiều tên lính khác từng đến đây. Khi sư cụ mời trà, hắn nâng tách trà bằng cả hai tay, đưa lên cao rồi mới uống cạn.
Bằng giọng nói tiếng Việt chưa sỏi lắm, tên lính giới thiệu với sư cụ là hắn vừa chuyển đến đồn Hoa Mai, quê hắn ở Algérie, xứ thuộc địa của Pháp. Hắn sang Việt Nam đã gần hai năm, từng đóng quân ở vài nơi.
- Tôi có một thằng con trai cũng bằng thằng nhỏ ở chùa này.
Tên lính chỉ tay vào Thông Đa đang lấp ló bên hông chùa, ánh mắt hắn dịu dàng nhìn Thông Đa làm sư cụ nhớ tới những ánh mắt long lên sòng sọc và nham hiểm của các tên lính da trắng, da đen đã nhiều lần chặn đường xét tay nải của sư cụ.
- Tôi nhớ con trai tôi lắm!
Giọng nói nhỏ nhẹ và buồn bã của tên lính khiến sư cụ dịu lòng. Có vẻ hiểu ra câu chuyện, sư cụ thăm dò:
- Tại sao ông bỏ vợ con để sang đây?
- Tôi bị bắt phải đi lính.
Tên lính không giấu giếm.
- Nó tên gì?
Tên lính lặp lại câu hỏi.
- A Di Đà Phật, nó tên Đa.
- Đa! Đa!
Tên lính vừa gọi vừa vẫy chú tiểu, Thông Đa không dám bước vào, mãi khi sư cụ giục mới rụt rè lên tiếng.
Tên lính lấy trong túi quần rộng rinh của hắn một nắm kẹo và ra dấu bảo Thông Đa xòe tay. Được sư cụ đồng ý, Thông Đa run run đưa hai bàn tay nhỏ bé đón lấy những cục kẹo giấy bóng. Thông Đa cố ý không để cho bàn tay mình chạm phải bàn tay to bè của tên lính.
* * *
Vầng trăng đã treo trên đỉnh tháp Chăm mà sư cụ còn thơ thẩn trước sân chùa. Trăng sáng vằng vặc. Cái tháp canh đồn Hoa Mai in một khối đen đậm lên nền trời bàng bạc màu sữa. Hằng ngày, cái tháp canh sừng sững nhắc nhở sư cụ nhiệm vụ chưa hoàn thành. Những đêm trăng nằm trằn trọc mãi rồi trở dậy đi dạo trong sân chùa như đêm nay, cái tháp canh đè nặng lồng ngực khiến sư cụ khó thở. Bác Bốn thợ hồ đã hoàn tất bản vẽ sơ đồ lầu Hoa Mai theo trí nhớ với những ngóc ngách bên trong, nhưng để chuẩn bị thành một sa bàn cho bộ đội thực tập tiến công thì còn thiếu sót nhiều lắm, từ các lô cốt ngầm trong lòng núi, hệ thống giao thông hào đến các trạm gác đặt ụ súng đại liên. Rồi còn cách tổ chức canh gác và giờ giấc sinh hoạt của bọn lính, bọn sĩ quan nữa! Bao nhiêu việc phức tạp đòi hỏi phải tốn rất nhiều công sức và thời gian.
Không gian vắng lặng chỉ còn tiếng côn trùng râm ran và hương hoa sứ thoang thoảng. Tiếng cười đùa và tiếng máy phát điện nổ rì rầm trên đồn Hoa Mai đã im ắng từ rất lâu. Sư cụ giục Thông Đa đi ngủ nhưng em không muốn để sư cụ ngồi một mình.
- Bẩm sư cụ, xứ Panduranga ở đâu?(*)
- Con đã biết hết chuyện rồi sao?
Sư cụ ôn tồn.
- Dạ, mấy đạo hữu đã kể cho con nghe.
Sư cụ lặng im. Thông Đa hồi hộp chờ đợi. Thông Đa muốn được nghe chính sư cụ nói ra chuyện bí mật cuộc đời em mà em đã biết phong thanh.
Sư cụ hớp một ngụm trà, giọng sâu lắng:
- Panduranga là vùng đất đại diện cho tiểu quốc cuối cùng của vương quốc Champa, tập trung người Chăm sinh sống từ lâu đời. Một lần giặc Pháp càn quét qua đây đã giết hại một cặp vợ chồng trẻ. Ta chứng kiến cảnh đau thương này nên đã bồng đứa bé trai còn đỏ hỏn đang nhay hoài bầu vú mẹ mang về nuôi. Về sau ta xuất gia, đem đứa bé đến ăn mày cửa Phật này. Đứa bé đó chính là con. Vậy mà đã mười ba năm trôi qua rồi đó. Hằng năm đến ngày mất của cha mẹ con, ta đều cúng mâm cơm đạm bạc và tụng kinh cầu siêu cho hai người. Ta nghĩ bụng chờ dịp thuận tiện sẽ kể lại lịch cuộc đời con cho con rõ…
* * *
Mỗi chủ nhật, hai sĩ quan Pháp thường cưỡi ngựa đi thăm các bạn của chúng đóng ở các đồn quanh vùng. Nhân dịp này, người cai đội đưa Thông Đa lên đồi Hoa Mai cho em thưởng ngoạn cảnh đẹp nhìn từ trên cao, hay chiều ý em, dẫn em đi trong đường hào chạy quanh sườn đồi.
Sau mỗi lần dạo chơi trên đồn Hoa Mai về, đêm đó và các đêm kế tiếp, sư cụ và Thông Đa lại thức rất khuya bên tấm sơ đồ vẽ dở dang, Thông Đa kể các chi tiết về lô cốt, chòi canh, ụ súng, đường hào, nơi ăn ở và giờ giấc sinh hoạt của bọn lính... cho sư cụ nghe. Người vẽ lại tỉ mỉ, ghi chú cẩn thận từng khoảng cách đến các nơi mà Thông Đa đã ước đoán bằng cách đếm bước chân của em. Mấy tháng sau cùng với bản vẻ của bác Bốn trước đây, bản sơ đồ đồn Hoa Mai đã được hoàn thành, qua đó có thể dựng sa bàn cho bộ đội thực tập để tiến công nhổ khối u đè nặng tâm tư của mọi người.
* * *
Cuối cùng, giờ G. đã đến.
Khi tiếng súng mở màn tiến công vang lên, bộ đội xông vào chiếm các lô cốt. Tiểu đội cảm tử áp sát căn nhà bọn lính đang ngủ say, vài tên chống cự bị hạ ngay tại chỗ, những tên còn lại đều đưa tay đầu hàng.
- Ông Jean ơi! Ông Jean ơi! Đầu hàng đi!
Trong lúc đó Thông Đa bỗng vụt chạy từ chỗ này sang chỗ khác và gào to tên người cai đội. Thông Đa không biết sợ hãi dù từ trên lầu đồn Hoa Mai, hai tên đồn trưởng và đồn phó nổ súng chống trả quyết liệt. Hai tên này từ trên tầng cao còn ném lựu đạn ném xuống nên các chiến sĩ Việt Minh phải khó khăn lắm mới lên được cầu thang và tiêu diệt chúng.
Nhưng Thông Đa đã hi sinh vì những tràng đạn chống trả điên cuồng của hai tên chỉ huy đồn Hoa Mai, khi Thông Đa phơi mình tìm kiếm người cai đội.
Trong đám hàng binh đồn Hoa Mai có người cai đội da đen. Trên đường bị áp giải về căn cứ, người cai đội xin được ôm xác Thông Đa bên mình chớ không giao cho bộ đội cáng võng. Người cai đội đã câm lặng, nước mắt đầm đìa trên má suốt chặng đường dài.
Giữa Thông Đa và người cai đội đã nảy sinh một tình cảm, khó có thể đặt tên cho chính xác. Tình cha con, tình bạn giữa một người lớn tuổi và một người nhỏ tuổi? Người cai đội xem Thông Đa như con vì ông ta có một đứa con ở quê nhà trạc tuổi Thông Đa. Còn Thông Đa xưa nay chỉ có sư cụ là người thân, em thiếu thốn tình cảm, nên khi quen biết người cai đội thì Thông Đa quyến luyến lắm.
(*): Vùng đất Phan Rang - Ninh Thuận, nay thuộc tỉnh Khánh Hòa.
