Bác Hồ với Cao Bằng - Những dấu ấn lịch sử
Ngày 28/1/1941, Bác Hồ trở về Tổ quốc sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài tìm đường cứu nước. Những ngày đầu, Người ở tạm nhà đồng bào bên sườn núi. Ngày 8/2/1941, Bác lên hang Cốc Bó ở và làm việc đến tháng 3/2041, Bác chuyển sang lán Khuổi Nặm. Tại lán Khuổi Nặm, từ ngày 10 - 19/5/1941, Bác triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng: xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu bức thiết nhất của cách mạng Việt Nam và xác định nhiều nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Để phục vụ cho việc tuyên truyền và vận động cách mạng, ngày 1/8/1941, Bác sáng lập tờ báo “Việt Nam Độc lập” và ra số đầu tiên tại Pác Bó. Tháng 11/1941, Bác chỉ thị thành lập Đội du kích Pác Bó để bảo vệ cơ quan, bảo vệ cán bộ, làm liên lạc đặc biệt, võ trang tuyên truyền…, đến tháng 2/1942, Bác chỉ đạo mở các lớp huấn luyện cán bộ quân sự tập trung (lớp quân chính), khóa I đầu năm 1942, khóa II cuối năm 1942.
Sau hơn 1 năm hoạt động ở Pác Bó, tháng 3/1942, Bác Hồ về khu căn cứ Lam Sơn (Hòa An - Nguyên Bình). Tại đây, Người mở lớp huấn luyện cán bộ chủ chốt cho Đảng bộ tỉnh và cho phong trào cách mạng. Tháng 3/1942, Bác “chỉ thị cho Tỉnh ủy Cao Bằng phải mở rộng căn cứ địa, nối liền căn cứ địa với Bắc Sơn, Võ Nhai; xây dựng một hành lang chính trị vững chắc từ Cao Bằng về xuôi để giữ vững liên lạc trong mọi tình huống”. Đến tháng 7, Bác “chủ trương “Nam tiến” mở thêm đường liên lạc tuyến Cao Bằng - Lạng Sơn và tuyến Cao Bằng - Bắc Kạn - Thái Nguyên để liên lạc thuận tiện với Thường vụ Trung ương Đảng và tạo điều kiện để phát triển cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang”. Từ chỉ thị của Bác, phong trào “Nam tiến” đã ra đời từ căn cứ địa Cao Bằng phát triển xuống Lạng Sơn gọi là Đông tiến, một hướng phát triển xuống phía Bắc Kạn - Thái Nguyên gọi là Nam tiến, một hướng phát triển sang phía Tây đến các tỉnh Hà Giang - Tuyên Quang gọi là Tây tiến, mặc dù phong trào phát triển theo nhiều hướng do yêu cầu đòi hỏi của cách mạng, nhưng đều gọi chung là phong trào “Nam tiến”, phong trào đã diễn ra mạnh mẽ. Đến cuối năm 1943, tổ chức được 19 đội xung phong Nam tiến, nối liến căn cứ địa Cao Bằng với Thái Nguyên và Trung ương ở miền xuôi như chỉ đạo của Bác.
Tháng 8/1942, Bác từ căn cứ Lam Sơn về Pác Bó rồi sang Trung Quốc liên lạc với lực lượng cách mạng quốc tế, ngày 28/8/1942, Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ, từ đó người bị giam giữ tại các nhà tù Tưởng Giới Thạch và bị quản thúc. Cuối tháng 9/1944, Bác trở lại Pác Bó. Vừa mới về nước, Người viết thư gửi đồng bào toàn quốc, xác định thời cơ giải phóng dân tộc, những nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam và chỉ thị hoãn chủ trương của Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, đồng thời gấp rút chuẩn bị lực lượng. Tháng 12/1944, Bác chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đồng thời giao nhiệm vụ cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo, xã Tam Kim. Tại buổi lễ, đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc bản chỉ thị của Người. Các chiến sĩ thề nguyện trung thành với Tổ quốc, với dân tộc.
Cuối năm 1944, đầu năm 1945, là thời kỳ diễn biến nhanh chóng của tình hình thế giới và Việt Nam. Trước tình hình đó, Bác tranh thủ mọi điều kiện, yếu tố bảo đảm cho cách mạng thắng lợi, nhất là sự ủng hộ của quốc tế và Mỹ. Từ Cao Bằng, tháng 2/1945, Bác lên đường đi Côn Minh (Trung Quốc) cùng việc đưa Trung úy Uyliam Sao - phi công Mỹ, do máy bay gặp nạn, nhảy dù xuống Cao Bằng, được Việt Minh cứu và trao trả cho Mỹ.
Tại Côn Minh, nơi có căn cứ các nước Đồng Minh, cũng là trụ sở Không đoàn 14 của Mỹ…, do tướng Sênôn chỉ huy. Chủ trương của Bác là chủ động đặt quan hệ với Mỹ, làm cho người Mỹ hiểu rõ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống phát xít Nhật… và tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ từ phía Mỹ.
Mặc dù khó khăn, trở ngại, nhưng Bác đã gặp hầu hết các cơ quan của Mỹ đóng trên đất Trung Quốc, báo cho thế giới biết rằng Mặt trận Việt Minh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo có tư cách là một bộ phận của Mặt trận Đồng Minh đang cùng thế giới, cùng Mỹ chống phát xít và cánh cửa quan hệ Việt - Mỹ đã được mở.
Bác tranh thủ mối quan hệ với Mỹ để làm nhiều việc cho cách mạng, Mỹ đã giúp Mặt trận Việt Minh về cán bộ, thuốc men, súng ống…, 2 lần dùng máy bay giúp Mặt trận Việt Minh rải 8 vạn tờ truyền đơn bằng tiếng Việt xuống các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Việc máy bay Mỹ rải truyền đơn của Việt Minh đã đề cao uy tín của Việt Minh đang đứng về phe Đồng minh cùng Mỹ đánh Nhật.
Tháng 4/1945, Bác trở lại Pác Bó gấp rút chuẩn bị lực lượng đón thời cơ giành chính quyền, Người chỉ đạo tổ chức lớp huấn luyện quân sự và thành lập Tiểu đội cận vệ đặc biệt. Đầu tháng 5/1945, Bác cùng Đội cận vệ rời Pác Bó đi Tân Trào (Tuyên Quang), Người đi qua các địa phương Xuân Hòa, Đào Ngạn, Nam Tuấn, Bình Long, Hồng Việt, Bình Dương, Thịnh Vượng... Ngày 21/5/1945, Người đến Tân Trào để chuẩn bị họp Hội nghị toàn quốc của Đảng (từ ngày 13 - 15/8/1945) và Đại hội Quốc dân (từ ngày 16 - 17/8/1945). Hội nghị của Đảng đã quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa gồm 5 người do Tổng Bí thư Trường Chinh phụ trách và Đại hội quốc dân đã cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Bác làm Chủ tịch. Sau Đại hội quốc dân, Bác gửi thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa đến đồng bào cả nước. Trong một thời gian ngắn, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công.

Nhân dân Pác Bó chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm (ngày 20/2/1961). Ảnh: TL
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Bác lại lên căn cứ địa Việt Bắc. Đầu năm 1950, Bác lên Cao Bằng kiểm tra mặt trận. Người đến Lam Sơn, Hồng Việt, Hòa An làm việc với Tỉnh ủy và giao nhiệm vụ cho Tỉnh ủy Cao Bằng, sau đó Người đi công tác nước ngoài (Trung Quốc, Liên Xô).
Cuối tháng 2/1950, từ nước ngoài, Bác trở lại theo đường Trùng Khánh - Quảng Uyên kiểm tra đường giao thông, các binh trạm, kho tàng chuẩn bị cho chiến dịch. Sau đó, Bác về căn cứ địa Việt Bắc, quyết định mở Chiến dịch Biên giới.
Cuối tháng 8, đầu tháng 9/1950, từ căn cứ địa Việt Bắc, Bác lên Cao Bằng trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Biên giới còn gọi là Chiến dịch Lê Hồng Phong II. Ngày 10/9/1950, Người đến Sở Chỉ huy Chiến dịch đặt tại làng Tả Phầy Nưa, huyện Quảng Uyên cũ làm việc với Bộ Chỉ huy Chiến dịch, đến ngày 13/9/1950, Người ra Sở chỉ huy tiền phương tại Nà Lạn, Thạch An và lên Đài quan sát núi Báo Đông trực tiếp quan sát, chỉ đạo mặt trận Đông Khê. Bác ra mặt trận, đó là nguồn sức mạnh, nguồn động viên lớn để quân và dân ta giành chiến thắng. Tháng 10/1950, sau khi Chiến dịch Biên giới thắng lợi, thị xã Cao Bằng là nơi được giải phóng đầu tiên... Ngay sau ngày giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm, Người đứng trên pháo đài quan sát thị xã, sau đó, Bác đến thăm và nói chuyện tại Hội nghị tổng kết Chiến dịch Lê Hồng Phong II họp ở Lam Sơn, Hồng Việt, Hòa An, từ ngày 23/9 - 18/10/1950, rồi Bác về căn cứ địa Việt Bắc.
Cuối tháng 2/1951, Bác đến thăm kho tiền tại hang núi Nà Khoang, gần làng Bó Ca, xã Minh Thanh, huyện Nguyên Bình (cũ). Đến hang, Người nói chuyện thân mật với cán bộ, chiến sĩ… Ngày 28/3/1951, trên đường đi công tác tuyến biên giới, Bác đến thăm đơn vị bộ đội vận tải đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam tại thôn Nà Roác, xã Bạch Đằng. Người đã động viên, khen ngợi cán bộ, chiến sĩ đơn vị vận tải. Người căn dặn: “Các chú phải giữ gìn xe, tiết kiệm xăng để phục vụ bộ đội. Xe, xăng là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân, các chú phải chăm sóc xe, yêu xe như con, quý xăng như máu”.
Bác lên thăm Cao Bằng - hậu phương của cuộc kháng chiến, Người đã đến thăm Công trường khai thác gỗ tà vẹt tại Phục Hòa, Khuổi Quang, xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa (cũ) và khen ngợi tinh thần làm việc của dân công ở công trường. Người đến Nà Pác là chỗ tập kết gỗ tại Khuổi Quang, Người động viên công nhân và chia thuốc lá cho từng người. Sau chiến dịch sản xuất gỗ tà vẹt, Cao Bằng được Bác tặng Cờ thi đua khá nhất.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Bác cùng Trung ương Đảng về Hà Nội lãnh đạo công cuộc xây dựng đất nước. Mặc dù bận rất nhiều việc, nhưng ngày 15/9/1958, Bác lên thăm Mỏ thiếc Tĩnh Túc, Người biểu dương tinh thần lao động và học tập của cán bộ, công nhân, ân cần nhắc nhở cán bộ, đảng viên và công nhân khắc phục khó khăn, xây dựng khu mỏ ngày càng giàu đẹp.
Ngày 19/2/1961, Cao Bằng lại vinh dự đón Bác lên thăm, Người thăm lại hang Pác Bó, nơi cách đây 20 năm đã ở và làm việc, trong không khí vui xuân, trước cảnh đẹp nên thơ, hùng vĩ của núi rừng Pác Bó.
Ngày 21/2/1961, Bác nói chuyện với nhân dân các dân tộc Cao Bằng trong cuộc mít tinh chào mừng chuyến thăm của Người tại Sân vận động thị xã Cao Bằng. Bác căn dặn: “Bác mong Cao Bằng sớm trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, như trước đây Cao Bằng là tỉnh đi đầu trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”.
Đã 85 năm trôi qua, mỗi mùa xuân về nhân dân các dân tộc Cao Bằng càng thêm nhớ Bác, nhớ mùa xuân đầu tiên đón Bác đến những lời nhắn nhủ cuối cùng. Đất Cao Bằng đã bao lần được đón Bác; những nơi Bác đến ở và làm việc đã trở thành di tích lịch sử cách mạng. Phát huy truyền thống quê hương cách mạng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng đang ra sức thi đua thực hiện lời Bác căn dặn, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam.
































