60 năm cải tiến máy tuốt lúa ở ĐBSCL, góp phần đưa Việt Nam thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới
Từ năm 1960 đến nay, công nghệ tuốt lúa và gặt đập lúa ngày càng hiện đại, trong đó có sự đóng góp lớn từ sự đổi mới sáng tạo của người nông dân ĐBSCL.

Nông dân đập lúa - Ảnh tư liệu/Internet
Những chiếc "máy" tuốt lúa thuở ban đầu
Từ năm 1960 trở về trước, sau khi cắt lúa nông dân dùng một cái bồ đập lúa, trông như cái phễu. Bồ đập lúa có miệng bồ và thanh gỗ để khi bó lúa đập xuống, hạt thóc sẽ rơi trong bồ. Cách đập lúa này ngày đập tối đa 200 - 300 kg lúa (thóc) với sức làm việc của 2 người đàn ông "lực điền".
Còn một hình thức khác nữa là chất lúa theo hình tròn, đường kính khoảng 6 - 10m. Nông dân dùng 1 cặp trâu kết đôi cho chúng đạp lúa. Người ở phía sau cứ nhịp roi dắt trâu đi vòng tròn trên lúa cho hạt thóc rụng ra. Cách này đã có từ lâu đời và khá hiệu quả khi lao động thủ công là chính.
Từ năm 1960, người nông dân ĐBSCL bắt đầu sử dụng máy tuốt lúa với cấu tạo khá thô sơ, đơn giản nhưng hiệu quả. Bộ khung sắt chữ V khá vững chắc, trên khung lắp trục quay hình trụ, thường làm bằng gỗ tròn. Dọc thân trục gỗ có gắn nhiều vòng sắt mô phỏng gai như gai trái chôm chôm, sầu riêng.
Khi vận hành, trục quay được truyền lực từ bánh xích có răng cưa. Người sử dụng có thể quay tay hoặc đạp giống như đạp xe để trục chuyển động. Khi bó lúa được đưa vào, các vòng sắt chữ U trên trục tuốt vào bông lúa, làm hạt thóc rời ra, rơi xuống nia hoặc tấm bạt hứng phía dưới, còn phần rơm được đẩy ra ngoài.

Máy tuốt lúa thô sơ những năm 1960 - Ảnh: internet
Sau năm 1960, nhất là từ khi ngành nông nghiệp nhập giống lúa thần nông vào năm 1967-1968, các máy móc xử lý lúa như máy tuốt, gặt, đập… bắt đầu ra đời và phát triển nhanh. Một sự kiện nữa làm cho nông dân hiểu biết hơn là vào năm 1965 tại An Giang có triển lãm về nông nghiệp. Tại cuộc triển lãm này có trưng bày máy tuốt lúa đơn giản sản xuất từ Nhật Bản, “gợi trí tò mò sáng tạo của nông dân”.

Máy tuốt lúa thời 1980 - Ảnh: Internet
60 năm cải tiến công nghệ máy tuốt lúa
Năm 1965, các thợ máy và nông dân vùng ĐBSCL bắt đầu nghiên cứu và thực nghiệm máy tuốt lúa trên cơ sở thùng tuốt lúa thô sơ ban đầu. Giai đoạn này, nông dân chuyển sang máy tuốt lúa gắn động cơ.
Phổ biến nhất là máy Koler 4 ngựa (4 mã lực, bà con quen gọi là Koler tư). Máy chạy xăng, nhỏ, gọn và hiệu quả, nông dân sử dụng nó với nhiều công năng. Người dân dùng máy làm cơ cấu truyền lực thay cho sức người. Máy được gắn liền với thùng tuốt lúa và chân đế làm bằng sắt hoặc cây, truyền động tới trục quay của máy tuốt bằng sợi cu roa để chạy. Máy này mỗi ngày có thể tuốt từ 2 - 3 tấn lúa… Năng suất lao động rất cao, tuy nhiên nó tiềm ẩn nguy hiểm, dễ xảy ra tai nạn lao động.
Trong giai đoạn này, các “kỹ sư chân đất” ở miền Tây từng bước cải tiến máy tuốt lúa thành thùng suốt lúa. Thùng suốt lúa có 3 bánh xe đẩy để di chuyển dễ dàng hơn. Các cơ sở sản xuất thùng suốt sử dụng động cơ diesel như Koler 10, Kubota, Yanma… để máy có công suất lớn.

Cảnh tuốt lúa bằng máy - Ảnh: Internet
Bộ phận chính của máy suốt lúa là máy truyền động và thùng suốt lúa. Khung thùng bằng sắt, phần chính trong thùng suốt lúa là trục quay. Trục chính kết nối với máy truyền động bằng dây cua roa. Trục bằng sắt, thân trục được gắn nhiều cánh sắt để làm rụng hết thóc khi suốt, thân trụ còn có cánh quạt gió vừa đẩy rơm bay ra, vừa làm bay thóc lép, làm cho thóc sạch hơn.

Máy gặt đập liên hợp thay thế hoàn toàn máy tuốt lúa trong nền nông nghiệp hiện đại - Ảnh: H.X
Từ 1980 về sau, máy tuốt lúa càng ngày càng được cải tiến. Tại các tỉnh trong vùng xuất hiện những thương hiệu máy tuốt lúa nổi tiếng như: Ba Khoái (An Giang), Tư Sang (Tiền Giang), Cơ khí Cửu Long, Hiệp Thành (Vĩnh Long)… Tuy nhiên, sau năm 2015, các thương hiệu kể trên hầu như dần biến mất, còn rất ít cơ sở đóng thùng suốt lúa, chỉ riêng thương hiệu máy gặt đập Tư Sang tiếp tục phát triển.
Cơ sở Tư Sang ở Đồng Tháp bắt đầu hoạt động làm thùng suốt lúa từ những năm 1980. Ông nguyên là thợ máy, đã nghiên cứu, tìm tòi các nguyên tắc, tính năng của máy tuốt lúa để cải tiến phục vụ nông dân. Theo ông Tư Sang, sau gần 40 năm hoạt động, cơ sở đã sản xuất 1.500 - 2.000 thùng suốt lúa phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Cơ sở nông cơ Tư Sang hiện nay - Ảnh: Văn Kim Khanh
Sở dĩ cơ sở Tư Sang tồn tại và phát triển được bởi đã "chuyển đổi khoa học công nghệ kịp thời". Con trai ông Tư Sang, anh Nguyễn Hồng Thiện, học Trường đại học Bách khoa TP.HCM. Ra trường, anh về quê tiếp tục sự nghiệp của cha. Do có kiến thức căn bản, thực hiện nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, có vốn... nên anh tiếp nối cha chế tạo nhiều loại máy phục vụ nông nghiệp, như máy gặt đập liên hợp, máy sạ lúa, máy cày, máy xới, máy chuyên chở lúa bánh xích… được thị trường và nông dân ưa chuộng.
Hơn 60 năm phát triển, từ chiếc máy tuốt lúa đơn sơ ban đầu, người nông dân ĐBSCL cùng những thợ cơ khí cần cù, sáng tạo đã tạo được những dấu mốc đáng kể trong lĩnh vực khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp. Họ đã góp phần không nhỏ vào thành tích đưa nông nghiệp phát triển vượt bậc, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới.