Xung đột Trung Đông: FTA trở thành 'van an toàn' cho xuất khẩu?
Xung đột tại Trung Đông leo thang đang đặt ra 'bài toán' mở rộng thị trường thay thế cho xuất khẩu Việt Nam. Việc tận dụng các FTA như 'van an toàn' giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro, nhưng 'hệ sinh thái' cần 'bơm' đủ nguồn lực.
Căng thẳng Trung Đông 2026 xoay quanh xung đột Mỹ – Israel với Iran đang đặt ra nhiều thách thức cho thương mại toàn cầu. Với Việt Nam, tác động dễ nhận thấy nhất là chi phí logistics tăng cao, rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng và biến động phụ phí vận tải.
Đó là chưa kể những điều chỉnh chính sách thương mại mới ở Mỹ. Những diễn biến này tạo ra xáo trộn đáng kể cho hoạt động xuất khẩu (XK) của Việt Nam.
“Bài toán” mở rộng thị trường thay thế
Trước bối cảnh như vậy, trong khuyến nghị đưa ra hôm 3/3, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (Vasep), mong rằng các doanh nghiệp (DN) thủy sản Việt Nam nên chủ động tái cấu thị trường và sản phẩm.

Tiếp xúc thường xuyên với nhà thu mua quốc tế sẽ giúp DN Việt tận dụng cơ hội mở rộng thị trường có FTA, giảm thiểu rủi ro từ chiến sự Trung Đông 2026.
Bên cạnh đó, theo Vasep, các DN cần tối ưu chi phí logistics, đàm phán lại hợp đồng vận tải, đa dạng tuyến đường, chủ động kế hoạch giao hàng sớm để giảm rủi ro phụ phí bất ngờ.
Ở cấp độ khu vực Trung Đông (vốn dĩ là một thị trường tiềm năng đối với thủy sản Việt Nam), bà Lê Hằng, Phó tổng thư ký Vasep, lưu ý đối với các DN có quan hệ thương mại trực tiếp với Trung Đông, chi phí vận chuyển sẽ duy trì ở mức cao, buộc phải tái cơ cấu thị trường, chuyển hướng XK sang khu vực khác hoặc đàm phán lại hợp đồng.
Về hàm ý với các DN thủy sản, bà Hằng chỉ rõ khủng hoảng Trung Đông năm 2026 cho thấy rủi ro địa chính trị có thể chuyển hóa thành rủi ro chuỗi lạnh chỉ trong vài ngày.
Cho nên DN thủy sản cần chủ động đa dạng hóa tuyến vận chuyển, tăng dự trữ tại kho lạnh khu vực, ưu tiên hợp đồng vận chuyển dài hạn thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường giao ngay.
Không chỉ với thủy sản, xét về tác động từ chiến sự Trung Đông 2026 đang đặt ra một trong những thách thức cho XK của Việt Nam là sức ép cạnh tranh cao hơn khi các quốc gia đều tìm cách mở rộng thị trường ngoài khu vực xung đột.
Điều này đặt ra “bài toán” mở rộng thị trường thay thế bằng cách tận dụng 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đang tham gia. Bởi lẽ, khi một thị trường gặp rủi ro, DN có thể chuyển hướng sang thị trường có ưu đãi thuế quan.
Điều này mang lại lợi thế là giúp DN xuất khẩu giảm chi phí nhờ ưu đãi thuế (nhiều dòng thuế về 0%), từ đó tăng biên lợi nhuận hoặc tăng khả năng cạnh tranh về giá.
Hơn nữa, việc tận dụng hiệu quả các FTA trong bối cảnh khủng hoảng chiến sự Trung Đông 2026 cũng mở ra cơ hội cho DN Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Bởi lẽ, các tập đoàn đa quốc gia có xu hướng đa dạng hóa nguồn cung ngoài khu vực rủi ro như Trung Đông. Việt Nam cũng có cơ hội thu hút đơn hàng dịch chuyển.
Ngoài ra, trong báo cáo vĩ mô phát hành vào gần cuối tháng 2/2026, khi bàn về tăng trưởng XK trong năm 2026, Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán MBS dự đoán sẽ duy trì đà tăng 15% - 16%.
Trong đó có nhờ vào việc đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa thị trường XK sang các thị trường có yêu cầu cao hơn nhưng giá trị gia tăng tốt hơn như: EU, Hàn Quốc.
Cần biết rằng EU, Hàn Quốc đều đang có FTA với Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm cho DN Việt để tận dụng tối đa lợi ích từ FTA ở hai thị trường quan trọng này.
Thực tế cho thấy mặc dù độ bao phủ của các FTA là lớn, tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan của DN Việt chỉ ở mức trung bình khoảng 30-40%. Tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA của nhiều DN Việt vẫn chưa tối đa vì không đáp ứng quy tắc xuất xứ, thiếu hiểu biết về cam kết kỹ thuật (SPS, TBT) và thiếu chiến lược thị trường dài hạn.
“Hệ sinh thái” FTA vẫn chờ “bơm” đủ nguồn lực
Chính vì vậy, hướng đi chiến lược cho DN Việt trong bối cảnh khủng hoảng Trung Đông 2026, cũng như việc Mỹ siết chính sách và áp lực chi phí, điều cần làm là không phụ thuộc 1 - 2 thị trường chính mà cần đa dạng thị trường XK bằng cách tận dụng các FTA.
Trong đó, cần tăng nội địa hóa nguyên liệu để đáp ứng quy tắc xuất xứ. Hơn thế nữa, nên tối ưu logistics bằng cách xem xét tuyến vận tải thay thế, ký hợp đồng dài hạn để ổn định chi phí. Và điều không thể thiếu là đáp ứng tiêu chuẩn cao ở những thị trường FTA có tiềm năng lớn.
Mặt khác, cần cải thiện năng lực của toàn bộ “hệ sinh thái” để biến cam kết từ các FTA thành lợi ích thực chất. Nhất là giữa “cơ hội trên giấy” và “lợi ích trong thực tế” còn tồn tại khoảng cách, khi “hệ sinh thái” FTA thực thi vẫn chờ “bơm” đủ nguồn lực tương xứng.
Nên nhắc lại, trong Khoản 2 Điều 9 của Nghị quyết 250/2025/QH15 của Quốc hội khóa 15 nêu rõ “Chính phủ bảo đảm nguồn lực cho việc xây dựng và vận hành hệ sinh thái tận dụng các FTA phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội để hỗ trợ DN, hợp tác xã (HTX), hộ kinh doanh tận dụng ưu đãi, lợi thế do các FTA mang lại”.
Trong góp ý vào cuối tháng 2/2026 của Vasep về dự thảo Nghị định quy định chi tiết có liên quan một số điều khoản của Nghị quyết số 250/2025/QH15, có nhấn mạnh “hệ sinh thái” nêu trên bao gồm các chủ thể từ cơ quan nhà nước có liên quan, hiệp hội ngành hàng, trường đại học có đào tạo liên quan, đến các cơ quan chức năng ở địa phương và DN, HTX.
Các chủ thể của hệ sinh thái này cần được bảo đảm “nguồn lực” để có thể hỗ trợ được các DN, HTX, hộ kinh doanh tận dụng ưu đãi, lợi thế do các FTA mang lại.
Nghĩa là nhóm các chủ thể (cơ quan nhà nước, hiệp hội ngành hàng, trường đại học có đào tạo liên quan…) là đối tượng chính cần được bảo đảm nguồn lực, và từ đó có thể hỗ trợ cho nhóm DN, HTX, hộ kinh doanh. Nguồn lực ở đây có thể là “cơ chế”, “năng lực chuyên môn”, “hạ tầng, dữ liệu, cơ sở vật chất” và “kinh phí”.
Thế nhưng, như băn khoăn của Vasep, trong dự thảo nghị định kể trên lại thiếu đang nghiêng tập trung về nhóm 2 (các DN, HTX, hộ kinh doanh) được hưởng là những gì và như thế nào, nhưng lại khuyết đi các chủ thể quan trọng (nhóm cơ quan nhà nước, hiệp hội,…) trong hệ sinh thái cần được “bảo đảm nguồn lực” mà quyết nghị tại khoản 2 Điều 9 của Nghị quyết 50 đã nêu.
Trong khi đó, chính nhóm các chủ thể quan trọng này mới là đối tượng chính cần thiết kế các nội dung (cơ chế, kinh phí, hạ tầng, nhân lực…) để đáp ứng “bảo đảm nguồn lực” như quyết nghị của Nghị quyết 50.
Không chỉ có vậy, phía Vasep chỉ rõ dự thảo cho thấy các thiết kế hỗ trợ ở đây đều khoanh hướng cho DN nhỏ, một số có DN vừa, và gần như không có đối tượng DN lớn. Tuy nhiên, với tiêu chí (định nghĩa) DN nhỏ và vừa (theo số lao động) hiện nay thì một số ngành, trong đó đặc biệt thủy sản – sẽ đa phần thuộc dạng DN lớn.
Điều đáng nói, đặc thù DN ngành thủy sản là sử dụng nhiều lao động hơn các ngành khác, nên nhiều DN sẽ không thuộc đối tượng (nhỏ/vừa). Trong khi, hệ thống quản trị, nguồn nhân lực, lãi suất, công nghệ thông tin, chuyển đổi số, thông tin, mở và giữ thị trường…thì lại rất cần hỗ trợ để nâng cao, đổi mới nhằm tận dụng ưu đãi, lợi thế do các FTA mang lại.






























