Xung đột Mỹ - Iran: Cuộc đấu tiêu hao

Trái với dự định ban đầu về việc dùng sức mạnh quân sự để giải quyết vấn đề Iran trong khoảng 4-5 tuần, 6 tháng sau khi Mỹ và Israel phát động chiến dịch không kích nhằm vào Tehran (ngày 28/2/2026), xung đột chưa tạo ra bước ngoặt quyết định mà đang chuyển sang một dạng đối đầu khác.

Khói bốc lên sau một vụ tấn công nhằm vào Tehran, Iran. Ảnh: ANI/TTXVN phát

Khói bốc lên sau một vụ tấn công nhằm vào Tehran, Iran. Ảnh: ANI/TTXVN phát

Khi ưu thế quân sự chưa đủ buộc Tehran khuất phục và kênh ngoại giao đình trệ, Washington gia tăng sức ép kinh tế, trong khi Iran tận dụng eo biển Hormuz làm đòn bẩy. Cuộc chiến vì thế đang dịch chuyển từ phá hủy năng lực quân sự sang cuộc đấu tiêu hao, thử thách sức chống chịu kinh tế, ý chí chính trị và khả năng mặc cả của mỗi bên.

Thế giằng co tốn kém

Mỹ cho rằng các cuộc tấn công đã gây tổn thất đáng kể cho năng lực quân sự và hạ tầng chiến lược của Iran, song mức độ thiệt hại thực tế vẫn còn nhiều đánh giá khác nhau. Trong khi đó, Tehran tiếp tục cho thấy khả năng duy trì đối đầu.

Iran đặc biệt tận dụng Hormuz như một “đòn bẩy bất đối xứng”. Việc dòng tàu qua tuyến hàng hải chiến lược này bị gián đoạn gây sức ép không chỉ với Mỹ mà cả các nước Vùng Vịnh và thị trường năng lượng toàn cầu. Giá dầu Brent theo một số ước tính vẫn cao hơn khoảng 25% so với trước xung đột, tạo thêm sức ép đối với lạm phát và tăng trưởng.

Cái giá đối với hai bên cũng ngày càng lớn. Theo Lầu Năm Góc, tính đến đầu tháng 8, Mỹ ghi nhận 18 quân nhân thiệt mạng và 642 người bị thương, trong khi chi phí quân sự lên tới 37,5 tỷ USD vào cuối tháng 7. Iran công bố 3.468 người thiệt mạng và hơn 26.500 người bị thương tính đến ngày 10/6. Như vậy, sau 6 tháng, ưu thế quân sự chưa chuyển hóa thành khả năng áp đặt một giải pháp, trong khi chi phí duy trì xung đột ngày càng tăng.

Nỗ lực ngoại giao đáng chú ý nhất là ngày 17/6, Mỹ và Iran đạt Biên bản ghi nhớ (MoU) 14 điểm, đặt thời hạn 60 ngày để tiến tới một thỏa thuận toàn diện. Theo khuôn khổ này, Tehran mở lại Hormuz, sau đó đàm phán về chương trình hạt nhân; đổi lại, Washington nới lỏng một số biện pháp trừng phạt và cho phép Iran tiếp cận một phần tài sản bị phong tỏa.

Tuy nhiên, bất đồng về “ai đi trước” khiến thỏa thuận đổ vỡ. Washington muốn Iran mở Hormuz trước, trong khi Tehran yêu cầu Mỹ thực hiện trước các cam kết về trừng phạt, tài sản và phong tỏa hàng hải. Chuyên gia Ali Vaez thuộc Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (ICG) cho rằng những điểm mơ hồ về trình tự thực hiện, Hormuz và nới lỏng trừng phạt chính là những yếu tố khiến MoU dễ đổ vỡ.

Sau khi thời hạn 60 ngày của MoU kết thúc mà không có đột phá, Tổng thống Donald Trump ngày 18/8 tuyên bố không có cuộc đàm phán nào đang diễn ra hoặc được lên kế hoạch với Iran. Điều này khiến Hormuz ngày càng trở thành một phần của bài toán mặc cả, thay vì chỉ là vấn đề hàng hải. Với Tehran, đây là công cụ gây sức ép đáng kể; với Washington, khôi phục tự do hàng hải trở thành một ưu tiên cấp bách.

Mặt trận mới

Washington đang chuyển trọng tâm sang kinh tế với Chiến dịch cô lập kinh tế ở quy mô chưa từng có nhằm vào Tehran. Ngày 24/8, Mỹ mở rộng các biện pháp trừng phạt thứ cấp đối với những tổ chức và quốc gia tiếp tục giao dịch với Iran, tập trung vào các lĩnh vực như tài sản kỹ thuật số, công nghệ, vàng, hàng không và vận tải biển. Washington gọi đây là “D-Day kinh tế”, nhằm cắt các nguồn lực giúp Tehran duy trì nền kinh tế và né tránh trừng phạt. Thay vì chỉ nhằm vào các thực thể của Iran, Washington đang tìm cách bóp nghẹt toàn bộ những đường dây tài chính và thương mại quốc tế giúp Tehran duy trì hoạt động kinh tế. Sự chuyển hướng cho thấy Washington đang đặt cược rằng sức ép kinh tế đủ lớn có thể buộc Tehran trở lại bàn đàm phán, nhưng tránh một vòng leo thang quân sự mới.

Tuy nhiên, đây cũng là canh bạc nhiều rủi ro. Theo chuyên gia Negar Mortazavi thuộc Trung tâm Chính sách Quốc tế của Mỹ, kinh nghiệm từ các chiến dịch gây sức ép tối đa trước đây cho thấy trừng phạt có thể làm gia tăng khó khăn kinh tế đối với người dân Iran nhưng chưa chắc dẫn tới nhượng bộ về chính trị. Trong khi đó, chuyên gia Ali Vaez thuộc Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (ICG) lưu ý Iran từng đối mặt với những sức ép tương tự và có thể đáp trả sức ép kinh tế bằng các biện pháp trên phương diện quân sự. Điều này đồng nghĩa mặt trận kinh tế không nhất thiết thay thế mặt trận quân sự, mà có thể trở thành nguyên nhân kích hoạt một vòng leo thang mới.

Một vấn đề khác là khả năng Iran thích ứng với trừng phạt. Khi một kênh thương mại hoặc tài chính bị chặn, Tehran có thể tìm kiếm các kênh khác thông qua những nước ít chịu ảnh hưởng của hệ thống tài chính Mỹ. Vì vậy, hiệu quả của “D-Day kinh tế” sẽ phụ thuộc không chỉ vào quy mô trừng phạt mà còn vào khả năng Washington kiểm soát mạng lưới quốc tế giúp Iran duy trì thương mại.

Kinh nghiệm từ thỏa thuận hạt nhân năm 2015 cho thấy sức ép có thể thúc đẩy Iran đàm phán nếu đi kèm một lộ trình giảm trừng phạt rõ ràng. Ngược lại, nếu Tehran không nhìn thấy lợi ích cụ thể từ việc nhượng bộ, sức ép có thể củng cố tâm lý chống đối.

Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Sara Al Neyadi thuộc TRENDS Group, xung đột đang chuyển sang giai đoạn “bào mòn chính trị”, trong đó trọng tâm không còn đơn thuần là phá hủy năng lực quân sự mà là làm suy giảm ý chí chính trị, sức chống chịu kinh tế và khả năng mặc cả của đối phương. Nhận định này phần nào lý giải thế giằng co hiện nay: mục tiêu của mỗi bên không nhất thiết là đánh bại hoàn toàn đối phương, mà khiến đối phương tin rằng tiếp tục cuộc chiến sẽ tốn kém hơn việc nhượng bộ.

Bài toán chưa có lời giải

Quang cảnh eo biển Hormuz. Ảnh: THX/TTXVN

Quang cảnh eo biển Hormuz. Ảnh: THX/TTXVN

Những điều đó khiến Washington không có nhiều lựa chọn dễ dàng. Chuyên gia James M. Lindsay thuộc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Mỹ) nhận định Mỹ hiện “không có lựa chọn tốt” để buộc Iran đáp ứng các yêu cầu: leo thang quân sự tiềm ẩn rủi ro đối với lực lượng và đồng minh Mỹ trong khu vực, trong khi leo thang kinh tế có thể gây thêm sức ép đối với thị trường và quan hệ với các đối tác.

Nhà phân tích Arash Marzbanmehr thuộc Meshkat Think Tank cũng cho rằng Mỹ và Iran vẫn bị “khóa” trong thế đối đầu. Mỹ đạt được một số mục tiêu chiến thuật nhưng chưa có lợi ích chiến lược đủ lớn để rút khỏi cuộc xung đột, trong khi Tehran cũng không muốn lùi bước. Vì vậy, chiến dịch gây sức ép kinh tế tối đa cũng là một phép thử lớn đối với chính nước Mỹ. Để chiến dịch thực sự có hiệu quả, Mỹ phải khiến các đối tác lớn của Iran, đặc biệt là Trung Quốc, thay đổi cách thức giao dịch với Tehran.

Trong thời gian tới, cuộc đối đầu có thể vận động theo ba hướng: giằng co kéo dài với sức ép kinh tế và các đụng độ có giới hạn; nối lại đàm phán nếu hai bên tìm được cơ chế trao đổi lợi ích phù hợp; hoặc tái leo thang nếu bế tắc ngoại giao kết hợp với một sự cố quân sự ngoài dự kiến.

Sau nửa năm, vấn đề quyết định không còn đơn thuần là bên nào thắng trên chiến trường, mà là bên nào có thể định hình những điều kiện để kết thúc xung đột. Washington đang đặt cược vào sức ép kinh tế để thay đổi tính toán của Tehran. Iran lại kỳ vọng khả năng chống chịu, Hormuz và chi phí chiến tranh sẽ buộc Mỹ phải điều chỉnh. Vì vậy, cuộc chiến nhiều khả năng vẫn là một cuộc đấu sức kéo dài, trong đó khả năng duy trì sức ép nhưng đồng thời giữ được một lối thoát ngoại giao sẽ quyết định 6 tháng tiếp theo là một vòng bào mòn mới hay bước khởi đầu của quá trình xuống thang.

Nguyễn Hà (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/phan-tichnhan-dinh/xung-dot-my-iran-cuoc-dau-tieu-hao-20260828100250151.htm