Xuất khẩu cà phê vẫn chịu sức ép lớn từ giá
Giá cà phê trong nước tiếp tục giảm dù thị trường thế giới có dấu hiệu ổn định trở lại.
Trong khi đó, xuất khẩu cà phê tăng lượng nhưng giá trị giảm, phản ánh áp lực từ giá và thị trường quốc tế.

Thu hái quả chín để nâng cao chất lượng cà phê, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu. Ảnh: Hồng Điệp - TTXVN
Mặc dù có sự bật tăng mạnh vào những ngày cuối tuần, song so với tuần trước, giá cà phê cuối tuần này tiếp tục giảm tại các địa phương trọng điểm Tây Nguyên. Tại Lâm Đồng, giá giảm khoảng 400 đồng/kg ở cả hai đầu khoảng giá, xuống còn 94.200–95.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá tại Đắk Lắk và Gia Lai cùng giảm 400 đồng/kg, xuống 94.700 đồng/kg.
Như vậy, sau một tuần, mặt bằng giá cà phê khu vực Tây Nguyên đã lùi thêm khoảng 400 đồng/kg, cho thấy thị trường đang chịu áp lực giảm khá rõ.
Nhìn lại, giá cà phê tại Tây Nguyên trong tháng 8/2026 biến động mạnh nhưng bình quân vẫn tăng 1.200–1.300 đồng/kg so với tháng trước. Ngày 6/8, giá tại Đắk Nông (cũ) tăng lên 99.000 đồng/kg, mức cao nhất trong 6 tháng, sau đó bắt đầu giảm. Tính bình quân tháng, giá tại Đắk Nông đạt 97.000 đồng/kg, tăng 1.300 đồng/kg; Đắk Lắk và Gia Lai 96.800 đồng/kg, tăng 1.200 đồng/kg; Lâm Đồng khoảng 96.300 đồng/kg, tăng 1.200 đồng/kg so với tháng 7.
Trong khi đó, giá cà phê thế giới tháng 8/2026 ghi nhận sự phân hóa mạnh mẽ giữa hai dòng sản phẩm khi Robusta chịu áp lực giảm giá từ lực bán và nguồn cung gia tăng, còn Arabica lại được hỗ trợ bởi những lo ngại về rủi ro thời tiết và nguy cơ thiếu hụt nguồn cung.
Trong tháng 8/2026, giá cà phê Robusta giao kỳ hạn tháng 9/2026 tại sàn giao dịch London, Anh trong tháng 8/2026 đạt 3.725 USD/tấn, giảm 104 USD/tấn so với tháng 7/2026. Giá cà phê Arabica giao kỳ hạn tháng 9/2026 tại sàn giao dịch New York, Mỹ đạt 344,5 Us cent/lb7, tăng xấp xỉ 21 Us cent/lb so với tháng 7/2026.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ghối lượng cà phê xuất khẩu 8 tháng năm 2026 đạt khoảng 1,3 triệu tấn với trị giá 6 tỷ USD, tăng 13,1% về khối lượng nhưng giảm 9,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 4.538 USD/tấn, giảm 19,7%, cho thấy giá giảm đang tác động đáng kể đến kim ngạch dù lượng xuất khẩu tăng.
Đức, Italia và Nhật Bản tiếp tục là 3 thị trường tiêu thụ lớn nhất, với thị phần lần lượt 13,2%, 8,2% và 7,1%; tuy nhiên, giá trị xuất khẩu sang cả 3 thị trường đều giảm so với cùng kỳ. Trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Trung Quốc ghi nhận mức tăng mạnh nhất, 72,7%, trong khi Malaysia giảm mạnh nhất, 26,7%.
Theo Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam, tăng trưởng xuất khẩu cà phê phụ thuộc vào khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững, đặc biệt là EUDR (quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu), cùng với đẩy mạnh chế biến sâu, nâng cao chất lượng. Hiện khoảng 30% diện tích cà phê của Việt Nam đã có các chứng chỉ sản xuất bền vững, nền tảng quan trọng để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu.
Về thị trường cà phê thế giới, chốt phiên giao dịch 4/9 trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 9/2026 ổn định ở mức 3.344 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 56 USD/tấn (1,66%) lên 3.430 USD/tấn.
Trên sàn New York, chỉ riêng giá cà phê Arabica giao tháng 9/2026 giảm 0,1 xu Mỹ/pound (0,03%) xuống 324,25 xu/pound. Các kỳ hạn khác đều tăng. Cụ thể, giá cà phê giao tháng 12/2026 tăng 0,25 xu/pound (0,08%) đạt 295,6 xu/pound.
Đà tăng nhẹ trong phiên cuối tuần giúp giá cà phê ổn định trở lại sau nhiều ngày giảm. Trong phiên 3/9, giá cà phê Arabica giảm xuống mức thấp nhất trong 1 tháng, còn giá cà phê Robusta chạm mức thấp nhất trong 3 tháng.
Trong tuần qua, giá cà phê chịu áp lực khi tiến độ thu hoạch tại Brazil cải thiện, làm gia tăng khả năng nguồn cung mới sẽ được đưa ra thị trường. Theo công bố mới đây của StoneX, công ty môi giới và tư vấn có trụ sở tại Mỹ, sản lượng cà phê vụ 2026-2027 của Brazil được dự báo đạt mức kỷ lục 77,2 triệu bao nhờ thời tiết thuận lợi, cao hơn 2,6% so với dự báo hồi tháng 3.
Về thị trường lúa gạo, theo cập nhật của Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, giá lúa có sự điều chỉnh nhẹ so với cuối tuần trước. Nhiều loại lúa có sự giảm nhẹ từ 100-200 đồng/kg như: OM 5451 còn từ 6.400-6.500 đồng/kg; OM 34 còn từ 5.800-5.900 đồng/kg; IR 50404 còn từ 6.200-6.400 đồng/kg; riêng OM 18 và Đài Thơm 8 vẫn dao động 6.500-6.700 đồng/kg.
Đối với gạo nguyên liệu, IR 504 và CL 555 có giá 8.700 – 8.800 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg. Các dòng lúa chất lượng cao như: OM 5451 duy trì ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 đạt 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở khoảng 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Nhìn lại tháng 8/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, thị trường lúa, gạo tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tương đối ổn định nhưng có sự phân hóa rõ giữa các chủng loại và phân khúc. Đáng chú ý, giá lúa tươi tại An Giang tăng khá rõ so với tháng trước, trong khi giá lúa khô tại Đồng Tháp và gạo nguyên liệu tiếp tục giảm. Ở thị trường bán lẻ, giá các loại gạo nhìn chung ổn định, chỉ một số chủng loại có biến động đáng kể. Trong bối cảnh nhiều địa phương bước vào thu hoạch lúa Hè Thu, nguồn cung lúa hàng hóa khá dồi dào, hoạt động mua bán diễn ra bình thường.
Tại An Giang, giá thu mua lúa tươi bình quân tháng 8 tăng ở nhiều chủng loại tăng trung bình từ 260-410 đồng/kg. Trái ngược với diễn biến giá lúa tươi, giá lúa khô tại Đồng Tháp (khu vực Tiền Giang cũ) lại giảm nhẹ so với tháng 7.
Sự trái chiều giữa giá lúa tươi và lúa khô là điểm đáng chú ý của thị trường trong tháng 8. Trong khi giá lúa tươi tại vùng thu hoạch có xu hướng tăng, giá lúa khô và nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu vẫn chịu sức ép giảm. Nguồn cung lúa Hè Thu tăng khi bước vào cao điểm thu hoạch cũng tạo thêm nguồn hàng cho các doanh nghiệp thu mua, chế biến.
Trên thị trường gạo, giá bán lẻ nhìn chung không biến động lớn. Đáng chú ý hơn là diễn biến ở phân khúc gạo nguyên liệu. Giá gạo nguyên liệu thành phẩm 5% tấm trong tháng 8 giảm 70 đồng/kg so với tháng trước, xuống 13.560 đồng/kg; loại 25% tấm giảm 60 đồng/kg, còn 12.670 đồng/kg.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, xuất khẩu gạo 8 tháng đạt khoảng 6 triệu tấn, trị giá 2,86 tỷ USD, giảm 6,3% về khối lượng và 11,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 480,9 USD/tấn, giảm 6%, cho thấy giá giảm cùng với sản lượng xuất khẩu sụt giảm đã tác động đáng kể đến kim ngạch.
Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 43,2% thị phần; tiếp đến là Trung Quốc và Ghana, lần lượt chiếm 18,4% và 11%. Trong khi giá trị xuất khẩu sang Philippines và Ghana giảm lần lượt 5,1% và 12,3%, thị trường Trung Quốc tăng mạnh 92,2%. Trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Iraq ghi nhận mức tăng mạnh nhất, gấp 110,9 lần, trong khi Bờ Biển Ngà giảm mạnh nhất, 59,3%.
Đánh giá về thị trường lúa gạo, ông Wanniwat Kitireanglarp, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Các nhà xuất khẩu Gạo Thái Lan cho biết, sức mua của Iraq sụt giảm mạnh trong chủ yếu phản ánh sự thay đổi về các tuyến đường thương mại thay vì nhu cầu thực tế suy yếu. Trong khi đó, châu Á cũng đang đóng góp thêm nhu cầu, trong đó Philippines và Malaysia là những thị trường đang được các nhà xuất khẩu Thái Lan chú trọng./.

