Xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch y tế
Du lịch y tế đang phát triển, trở thành ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Nhiều nước đã xây dựng thành công thương hiệu quốc gia về du lịch y tế, thu hút rất nhiều khách quốc tế mỗi năm.

Khám bệnh tại hệ thống y tế Vinmec. (Ảnh: MẠNH CƯỜNG)
Du lịch y tế đang phát triển, trở thành ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Nhiều nước đã xây dựng thành công thương hiệu quốc gia về du lịch y tế, thu hút rất nhiều khách quốc tế mỗi năm. Đây là kinh nghiệm tốt giúp Việt Nam thúc đẩy, phát huy tiềm năng du lịch và y tế sẵn có trong bối cảnh nhu cầu kết hợp khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe và nghỉ dưỡng gia tăng trên phạm vi toàn cầu.
Nhiều lợi thế phát triển du lịch y tế
Tại Việt Nam, các hoạt động chăm sóc sức khỏe kết hợp du lịch đã hình thành từ lâu, song du lịch y tế theo nghĩa hiện đại chỉ thật sự phát triển trong khoảng mười năm gần đây, gắn với quá trình hiện đại hóa hệ thống y tế và phát triển ngành du lịch.
Đến nay, hoạt động du lịch y tế tại Việt Nam đã đạt được một số kết quả bước đầu, trên cơ sở năng lực chuyên môn của hệ thống y tế trong nước. Các báo cáo và thống kê cho thấy lượng khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế tại Việt Nam ước đạt khoảng 300 nghìn lượt mỗi năm; tổng chi tiêu của nhóm khách này ước tính từ 1 đến 2 tỷ USD, gồm chi phí dịch vụ y tế và các chi phí lưu trú, đi lại, ăn uống kèm theo. Tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Khánh Hòa... đang dần phát triển các sản phẩm du lịch y tế nhờ hệ thống y tế chuyên sâu hay uy tín của các giáo sư, bác sĩ đầu ngành hay dựa trên thế mạnh về nghỉ dưỡng và y học cổ truyền.
Tuy nhiên, khách du lịch y tế đến Việt Nam chủ yếu là kiều bào, khách đến từ Campuchia, Lào, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và một số nước châu Âu, sử dụng các dịch vụ chuyên khoa như: nha khoa thẩm mỹ, hỗ trợ sinh sản, thẩm mỹ, khám sức khỏe tổng quát và một số chuyên khoa kỹ thuật cao. Trong khi đó, mỗi năm người Việt Nam chi khoảng 2 đến 3 tỷ USD cho khám bệnh, chữa bệnh ở nước ngoài, cao hơn toàn bộ nguồn thu từ khách du lịch y tế. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng dịch vụ, xây dựng thương hiệu và tăng khả năng cạnh tranh của y tế Việt Nam.
Các chuyên gia đều chỉ rõ, Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển du lịch y tế, đó là hệ thống tài nguyên du lịch phong phú với nhiều di sản thiên nhiên và văn hóa được thế giới công nhận, chi phí dịch vụ y tế cạnh tranh, nhân lực y tế có trình độ chuyên môn tốt, di sản y học cổ truyền lâu đời.
Đặc biệt, Việt Nam có thêm một lợi thế cạnh tranh quan trọng, đó là môi trường chính trị-xã hội ổn định, an ninh được bảo đảm. Về năng lực khám, chữa bệnh, Việt Nam hiện có khoảng 100 cơ sở y tế chuyên sâu, trong đó đã có 13 bệnh viện đạt tiêu chuẩn JCI (bộ tiêu chuẩn hàng đầu thế giới của Mỹ về thẩm định chất lượng dịch vụ và an toàn người bệnh), tập trung tại Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều cơ sở y tế đã làm chủ kỹ thuật phức tạp như phẫu thuật robot, ghép tạng, can thiệp tim mạch, điều trị ung thư, hỗ trợ sinh sản cùng kỹ thuật chuyên sâu về mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt.
Đáng chú ý, y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử lâu đời, với các phương pháp điều trị như châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp và sử dụng dược liệu truyền thống đang dần được quốc tế công nhận. Những năng lực này được xác định là nền tảng quan trọng để phát triển sản phẩm du lịch y tế, kết hợp giữa dịch vụ chăm sóc sức khỏe và hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng.
Cần chính sách rõ ràng, lộ trình, hành lang pháp lý cụ thể
Thị trường du lịch y tế toàn cầu ước tính có quy mô từ khoảng 100 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng dự báo từ 8 đến 16% mỗi năm đến năm 2035, riêng khu vực châu Á-Thái Bình Dương được dự báo có tốc độ tăng trưởng cao hơn mặt bằng chung. Đây là dư địa rất lớn cho Việt Nam khai thác thế mạnh, đẩy mạnh phát triển du lịch y tế để thu hút khách quốc tế cũng như giữ chân người bệnh trong nước. Nhưng để khai thác được tiềm năng, cần làm rất nhiều việc, từ việc có chính sách rõ ràng, lộ trình cụ thể và hành lang pháp lý.
Hiện Bộ Y tế đang phối hợp các bộ, ngành liên quan xây dựng Đề án “Phát triển Du lịch y tế giai đoạn 2026-2030” với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm đến du lịch y tế cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á, từng bước vươn lên nhóm dẫn đầu châu Á, với chuỗi dịch vụ đồng bộ từ y học hiện đại, y dược cổ truyền, phục hồi chức năng đến chăm sóc sức khỏe toàn diện tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế…
Đề án có 2 giai đoạn triển khai: 2026-2028 và 2029-2030. Dự kiến Việt Nam có ít nhất 20 bệnh viện đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, 30 gói sản phẩm du lịch y tế được chuẩn hóa và đưa vào vận hành; Cổng thông tin du lịch y tế quốc gia đa ngôn ngữ và Cơ sở dữ liệu du lịch y tế quốc gia được vận hành. Đáng chú ý, bộ nhận diện thương hiệu quốc gia “Du lịch y tế Việt Nam” sẽ được ban hành, triển khai thống nhất… Kỳ vọng đến năm 2030, Việt Nam đón khoảng 750 nghìn lượt khách du lịch y tế quốc tế; doanh thu trực tiếp từ dịch vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe được đặt mục tiêu đạt khoảng 1 tỷ USD; tổng chi tiêu của khách và người đi cùng khoảng 2,5 tỷ USD…
Để hiện thực hóa các mục tiêu nêu trên, đề án đã đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể với lộ trình rõ ràng. Thời gian qua, nhiều địa phương trên cả nước như Hà Nội, Đà Nẵng, Lâm Đồng… đã xây dựng phương án phát triển du lịch y tế tại địa bàn dựa trên những thế mạnh riêng có. Hà Nội đang xây dựng Đề án phát triển du lịch y tế Thủ đô giai đoạn 2026- 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tiến sĩ Nguyễn Đình Hưng, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội chia sẻ: Thành phố đang từng bước xây dựng và quảng bá thương hiệu “Hà Nội-Trung tâm y tế chất lượng cao của Việt Nam”, hướng tới trở thành điểm đến chăm sóc sức khỏe và du lịch y tế hàng đầu Đông Nam Á...
Để lĩnh vực răng hàm mặt là một trong những lĩnh vực tiên phong của du lịch y tế Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Cao Bính, Giám đốc Bệnh viện răng hàm mặt Trung ương Hà Nội cho rằng: Các đơn vị phải coi chất lượng và an toàn là nền tảng; lấy người bệnh quốc tế làm trung tâm; phát triển theo tiêu chuẩn quốc tế nhưng phù hợp điều kiện Việt Nam, đặc biệt cần phát triển theo hệ sinh thái du lịch nha khoa Việt Nam và xây dựng thương hiệu quốc gia với định vị: chất lượng-an toàn-giá trị-trải nghiệm. Xây dựng mạng lưới cơ sở có năng lực để hình thành Vietnam Dental Tourism Network. Đi liền đó là thiết kế các sản phẩm Răng Hàm Mặt chiến lược, trong đó ưu tiên: Implant nha khoa, phục hình toàn hàm, nha khoa thẩm mỹ, nha khoa kỹ thuật số, chỉnh nha...
Theo Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Nhân dân Đỗ Tất Cường, Chủ tịch Hội đồng cố vấn lâm sàng Hệ thống y tế Vinmec: Để thúc đẩy toàn diện du lịch y tế tại Việt Nam, cần sự vào cuộc của nhiều bộ, ngành liên quan và địa phương. Thực hiện truyền thông tích hợp y tế-du lịch-văn hóa trên thị trường quốc tế; phát triển nền tảng thông tin du lịch y tế quốc gia đa ngôn ngữ; có chính sách cấp Visa du lịch y tế cho bệnh nhân và người thân; phát triển các dịch vụ phụ trợ (di chuyển, lưu trú, tham quan danh lam thắng cảnh)... Về phía cơ sở y tế cần có các gói dịch vụ và minh bạch chi phí; bảo đảm chất lượng khám chữa y tế chuyên môn sâu, đa chuyên khoa được giám sát và quản lý chặt chẽ bởi Cơ quan chuyên môn...
Tiến sĩ Hà Anh Đức, Cục trưởng Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế)-đơn vị thường trực xây dựng Đề án “Phát triển Du lịch y tế giai đoạn 2026-2030” chia sẻ: Các đơn vị, địa phương cần định vị lĩnh vực mũi nhọn để có phương án đầu tư, phát triển, trong đó y học cổ truyền, phục hồi chức năng là lợi thế độc bản về dược liệu, trị liệu không dùng thuốc, rất hấp dẫn du khách phương Tây.
Hiện nay các cơ quan liên quan đang khẩn trương nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chuẩn dành cho các bệnh viện, phòng khám và cơ sở y tế tham gia mạng lưới du lịch y tế. Đi cùng với đó là cơ chế giá dịch vụ y tế; truyền thông, quảng bá hình ảnh Việt Nam như một điểm đến uy tín về điều trị, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, thẩm mỹ và y học cổ truyền.

