Xanh hóa sản xuất, làng gốm Bát Tràng bứt phá về hiệu quả kinh tế
Từng chịu sức ép lớn từ ô nhiễm môi trường, làng gốm Bát Tràng nay đang chuyển đổi công nghệ và sử dụng năng lượng sạch. Quá trình xanh hóa giúp giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và tạo động lực tăng trưởng kinh tế cho làng nghề.
Trong nhiều năm, mô hình sản xuất thủ công với lò nung đốt than từng khiến Bát Tràng trở thành điểm nóng về ô nhiễm môi trường. Những năm gần đây, làng gốm Bát Tràng (xã Bát Tràng, TP. Hà Nội) đang chuyển mình mạnh mẽ nhờ chuyển đổi công nghệ và sử dụng năng lượng sạch, những lò gốm không còn cháy bằng than truyền thống mà bừng sáng bằng năng lượng sạch. Quá trình “xanh hóa” này không chỉ cải thiện môi trường sống mà còn tạo động lực tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh cho làng nghề truyền thống hơn 700 năm tuổi.
Trên đất Thăng Long xưa có bốn làng nghề được mệnh danh là 'tứ nghệ tinh' gồm: Làng dệt lĩnh Yên Thái, gốm Bát Tràng, kim hoàn Định Công và đúc đồng Ngũ Xã. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, làng gốm Bát Tràng vẫn giữ vững bản sắc văn hóa truyền thống, tinh hoa nghệ thuật, sự độc đáo trong từng sản phẩm, kết hợp hài hòa với sự sáng tạo, đổi mới để tạo ra đa dạng sản phẩm gốm sứ, trở thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, niềm tự hào của Hà Nội và Việt Nam. Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, mô hình sản xuất dựa vào hàng nghìn lò nung đốt than đã khiến làng nghề rơi vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, chất lượng môi trường và hình ảnh thương hiệu.

Bát Tràng là một làng gốm cổ truyền thống nổi tiếng hàng đầu Việt Nam
Theo ông Lê Đức Trọng, Giám đốc Công ty Cổ phần sản xuất và thiết kế gốm sứ Bát Tràng, trước năm 2000, toàn làng có khoảng 1.000 lò nung than, mỗi năm tiêu thụ khoảng 70.000 tấn than và 100.000 tấn nguyên liệu sản xuất gốm sứ. “Hoạt động sản xuất khi đó thải ra môi trường khoảng 130 tấn bụi, 6.800 tấn tro xỉ mỗi năm, kéo theo tỷ lệ mắc các bệnh hô hấp trong cộng đồng dân cư rất cao”, ông Trọng cho biết.
Ô nhiễm môi trường đã trở thành rào cản lớn đối với sự phát triển kinh tế của làng nghề, làm suy giảm sức hút đầu tư, du lịch và khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trước thực trạng này, chính quyền địa phương và các hộ sản xuất tại Bát Tràng đã xác định chuyển đổi công nghệ là giải pháp cốt lõi, trong đó trọng tâm là thay thế lò nung than bằng lò nung sử dụng khí gas hóa lỏng và điện.

Lò gas nung gốm đã dần thay những lò than truyền thống
Anh Mạnh Cường - một trong những hộ sản xuất tiên phong đầu tư lò nung gas cho biết môi trường làng nghề đã được cải thiện rất rõ rệt: “Việc chuyển sang lò gas thì tôi thấy giảm thiểu ô nhiễm môi trường, trong quá trình nung đốt không thải ra khí độc hại. Môi trường làng nghề được cải thiện rõ rệt”.

Môi trường làm việc trong các xưởng gốm được cải thiện nhờ việc sử dụng lò nung gas

Sản phẩm gốm sản xuất được số lượng lớn, đảm bảo chất lượng đồng đều nhờ áp dụng lò nung gas hiện đại.
Không chỉ giải quyết vấn đề ô nhiễm, công nghệ lò nung gas còn giúp người thợ chủ động kiểm soát, điều chỉnh nhiệt độ phù hợp với từng loại sản phẩm, giúp sản phẩm gốm ra lò có chất lượng cao, đồng đều hơn và nâng cao giá trị kinh tế .
“Nếu như lò đốt than phải mất từ 3 đến 5 ngày cho một mẻ nung, thì lò gas chỉ cần khoảng 13 tiếng nung và 13 tiếng chờ nguội. Tỷ lệ sản phẩm đạt tiêu chuẩn lên tới 95–98%, cao hơn từ 30–50% so với lò than truyền thống”, anh Tuấn An, thợ gốm Bát Tràng chia sẻ.
Ông Lê Đức Trọng, Giám đốc Công ty Cổ phần sản xuất và thiết kế gốm sứ Bát Tràng, cho biết bước ngoặt quan trọng trong quá trình chuyển đổi công nghệ tại Bát Tràng diễn ra từ năm 2003, khi Dự án Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (PECSME) hỗ trợ vốn và kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất. Từ mô hình thí điểm ban đầu, công nghệ lò nung gas nhanh chóng được nhân rộng, không chỉ tại Bát Tràng mà còn lan tỏa tới nhiều làng nghề gốm sứ trên cả nước.
Đến nay, 100% hộ sản xuất tại Bát Tràng đã chuyển sang sử dụng lò gas hoặc lò điện, thay thế hoàn toàn lò nung than. Nhiều cơ sở còn đầu tư hệ thống lò tuy-nel (lò nung liên hoàn), giúp tiết kiệm khoảng 30% chi phí năng lượng và giảm giá thành sản xuất, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Nhờ đổi mới công nghệ, các sản phẩm gốm Bát Tràng hiện nay ngày càng đa dạng về mẫu mã, ổn định về chất lượng, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế. Hiện nay, gốm Bát Tràng đã được xuất khẩu sang nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước châu Âu, đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu ngành thủ công mỹ nghệ.

Các sản phẩm gốm Bát Tràng ngày càng đa dạng về mẫu mã, ổn định về chất lượng, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, môi trường sống tại Bát Tràng cũng được cải thiện rõ rệt. Hình ảnh cột khói đen, lớp bụi than phủ kín đường làng trước đây gần như không còn. Không khí trong lành hơn đã tạo điều kiện để Bát Tràng phát triển các mô hình kinh tế khác như du lịch làng nghề, dịch vụ trải nghiệm văn hóa, qua đó mở rộng nguồn thu và tạo thêm việc làm cho người dân địa phương.

Nhiều hoạt động trải nghiệm văn hóa tại làng gốm Bát Tràng
Theo TS. Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam, để các làng nghề phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao, cần có chiến lược tổng thể và dài hạn. “Các địa phương cần xây dựng lộ trình phát triển làng nghề gắn với mục tiêu giảm phát thải, đồng bộ giữa quy hoạch sản xuất, chính sách hỗ trợ, tín dụng xanh và đầu tư hạ tầng kỹ thuật”, TS. Hoàng Dương Tùng nhấn mạnh.
Thực tiễn từ Bát Tràng cho thấy, chuyển đổi công nghệ và sử dụng năng lượng sạch không chỉ là giải pháp môi trường, mà còn là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh tế, gia tăng giá trị sản phẩm và hướng tới phát triển bền vững cho các làng nghề truyền thống trong giai đoạn mới. Qua đó góp phần xây dựng Việt Nam xanh, sạch và bền vững hơn.



























