Xăng E10 tỏ rõ ưu việt về môi trường
Sau hơn một tháng chuyển đổi sang xăng sinh học E10, thị trường tiếp tục vận hành ổn định. Đáng chú ý, kết quả quan trắc cho thấy chất lượng không khí tại nhiều đô thị đã được cải thiện rõ rệt từ khi xăng E10 được đưa vào sử dụng.

Người dân trên địa bàn Hà Nội mua xăng E10.
Trong tháng 6, tổng lượng tiêu thụ xăng sinh học (E5 và E10) cả nước đạt hơn 1 tỷ lít; trong đó, xăng E10 chiếm gần 95% tổng lượng tiêu thụ và xăng E5 chiếm khoảng 5%.
Nhiều ưu thế vượt trội
Hiện nay, toàn bộ hơn 17.000 cửa hàng kinh doanh xăng dầu trên cả nước đã hoàn tất chuyển đổi sang phân phối xăng sinh học. Về nguồn cung, thị trường có 26 thương nhân đầu mối cung ứng xăng E10, trong đó 11 đơn vị đồng thời cung ứng cả xăng E5. Tổng lượng tiêu thụ xăng sinh học trong tháng 6 là khoảng 1 tỷ lít, tương đương với lượng tiêu thụ xăng khoáng trước đây.
Theo số liệu quan trắc từ Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), so sánh thời điểm cuối tháng 6 với cuối tháng 5, chỉ số bụi mịn tại Hà Nội sụt giảm mạnh: PM2.5 giảm 31,0% và PM10 giảm 29,6%. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, xu hướng này diễn ra đồng bộ và toàn diện hơn khi cả nhóm bụi và khí ô nhiễm đều giảm sâu. Cụ thể, lượng khí NO2, CO và NOx giảm mạnh lần lượt ở mức 68,6%, 65,2% và 57,6%; khí SO2 giảm 38,5% và O3 giảm 14,4%. Các chỉ số bụi mịn PM2.5 và PM10 tại đây cũng giảm tương ứng là 15,7% và 14,3%.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành (Đại học Bách khoa Hà Nội) đánh giá, thực tiễn sử dụng xăng E10 trên toàn quốc thời gian qua đã khẳng định nhiều ưu điểm. Đó là khả năng vận hành tương đương với các loại xăng khoáng truyền thống, duy trì đầy đủ các tính năng kỹ thuật cơ bản của phương tiện. Điểm ưu việt của xăng E10 nằm ở việc chứa khoảng 3,4% hàm lượng oxy, giúp quá trình đốt cháy nhiên liệu trong động cơ diễn ra triệt để, hiệu quả và sạch hơn, từ đó cắt giảm đáng kể lượng phát thải hydrocarbon (HC) cũng như khí carbon monoxide (CO). Hiệu quả này đã được minh chứng qua kết quả quan trắc chất lượng không khí.
Theo một số chuyên gia, xăng E10 còn là lời giải thiết thực cho bài toán kinh tế theo chuỗi giá trị, phát huy cao nhất thế mạnh của một quốc gia nông nghiệp, nhất là với nông dân trồng sắn.
Tầm nhìn dài hạn
Theo Tiến sĩ Đặng Tất Thành (Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công - Bộ Công thương), đây không chỉ là việc đưa một loại nhiên liệu mới ra thị trường mà là quá trình xây dựng một hệ sinh thái an ninh năng lượng. Cùng với thế mạnh sẵn có từ sắn và mật rỉ đường, Việt Nam cần học hỏi các quốc gia như Brazil, đẩy mạnh công nghệ sản xuất ethanol thế hệ mới từ phụ phẩm nông-lâm nghiệp (rơm rạ, bã mía, lõi ngô), giúp giải quyết hài hòa bài toán an ninh năng lượng và an ninh lương thực.
Để hệ sinh thái này vận hành trơn tru, hệ thống pha chế, phối trộn và phân phối cũng cần được hoàn thiện đồng bộ. Công tác kiểm soát chất lượng xăng sinh học cần được tăng cường và bám sát các quy chuẩn kỹ thuật hiện hành; thông tin khoa học về chất lượng nhiên liệu cũng như khả năng tương thích với động cơ cần được công khai minh bạch.
Hiện tại, ba nhà máy ethanol trong nước đang đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thị trường, và dự kiến tăng lên 30-35% vào cuối năm 2026 khi có thêm hai đến ba nhà máy hoạt động trở lại. Dù vậy, theo bà Vũ Thiên Hương - Tổng Thư ký Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, việc tự chủ 100% nguồn cung là không bắt buộc. Một tỷ lệ nhập khẩu hợp lý sẽ giúp đa dạng hóa nguồn cung, đồng thời bảo đảm cân bằng thương mại với các đối tác chiến lược.
Lộ trình nhiên liệu sinh học sẽ không dừng lại ở xăng E10. Tiến sĩ Trần Hải Ninh, Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo BSR (Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam-BSR) chia sẻ, chuyển đổi công nghệ ở một nhà máy lọc dầu là quá trình đầu tư dài hạn. Do đó, bên cạnh cung ứng xăng E10 ra thị trường, BSR cũng đang từng bước nghiên cứu và phát triển các nhiên liệu tái tạo thế hệ mới như nhiên liệu hàng không bền vững hay nhiên liệu sinh học cho động cơ diesel.































