Việt Nam đặt mục tiêu 100% người dân được quản lý sức khỏe suốt đời
Chương trình mục tiêu quốc gia mới đặt mục tiêu quản lý sức khỏe toàn dân, nâng cao chất lượng dân số đến năm 2035.
Tại Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa, xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 nêu rõ, chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển là một trong những nội dung quan trọng, hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Quản lý sức khỏe người dân ngay từ cơ sở
Theo mục tiêu chung của Chương trình, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển, Nhà nước hướng tới bảo đảm mọi người dân được quản lý, chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng bệnh từ sớm, từ xa, ngay tại cơ sở, qua đó hạn chế bệnh tật và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Chương trình đồng thời đặt mục tiêu gia tăng tỷ lệ sinh, từng bước đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng; thích ứng với quá trình già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và tăng cường chăm sóc các nhóm dễ bị tổn thương.
Các mục tiêu này được xác định nhằm góp phần nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của Nhân dân, hướng tới xây dựng một Việt Nam khỏe mạnh.

Nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe người dân từ cơ sở. Ảnh: Lê Bảo
Đến năm 2030, Chương trình đặt mục tiêu góp phần đưa tỷ lệ xã, phường, đặc khu đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã lên 90%. Đáng chú ý, 100% người dân được lập sổ sức khỏe điện tử và quản lý sức khỏe theo vòng đời.
Cùng với đó, 100% trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) các tỉnh, thành phố được kỳ vọng đủ năng lực xét nghiệm tác nhân, kháng nguyên, kháng thể đối với các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, cũng như kiểm nghiệm chất lượng nước sạch, vệ sinh trường học theo quy định của Bộ Y tế.
100% trạm y tế xã, phường, đặc khu sẽ triển khai dự phòng, quản lý và điều trị một số bệnh không lây nhiễm theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Chú trọng dân số, dinh dưỡng và nhóm dễ bị tổn thương
Trong lĩnh vực dinh dưỡng và dân số, Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 15%. Tỷ suất sinh thô tăng thêm 0,5‰ so với năm 2025; tỷ số giới tính khi sinh giảm xuống dưới 109 bé trai sinh ra sống trên 100 bé gái sinh ra sống.
Công tác chăm sóc sức khỏe trước và trong thai kỳ cũng được đặt ra với những chỉ tiêu cụ thể. Theo đó, 90% cặp nam, nữ được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn; 70% phụ nữ mang thai được khám sàng lọc trước sinh ít nhất 4 loại bệnh bẩm sinh phổ biến nhất và 90% trẻ sơ sinh được khám sàng lọc ít nhất 5 loại bệnh bẩm sinh phổ biến nhất.
Đối với các nhóm dễ bị tổn thương, số lượng người được tiếp cận, sử dụng dịch vụ tại các cơ sở chăm sóc xã hội phấn đấu tăng 70% so với năm 2025.
Đến năm 2035, các mục tiêu tiếp tục được nâng lên. Tỷ lệ xã, phường, đặc khu đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã đạt 95%; tỷ lệ người dân được lập sổ sức khỏe điện tử và quản lý sức khỏe theo vòng đời tiếp tục duy trì 100%.
100% CDC các tỉnh, thành phố đủ năng lực xét nghiệm theo yêu cầu và 100% trạm y tế thực hiện dự phòng, quản lý, điều trị một số bệnh không lây nhiễm tiếp tục được duy trì.
Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống dưới 13%; tỷ suất sinh thô tăng thêm 0,5‰ so với năm 2030. Tỷ số giới tính khi sinh giảm xuống dưới 107 bé trai trên 100 bé gái.
Chương trình cũng đặt mục tiêu nâng tỷ lệ các cặp nam, nữ được tư vấn, khám sức khỏe trước hôn nhân lên 95%; 90% phụ nữ mang thai được sàng lọc trước sinh ít nhất 4 loại bệnh bẩm sinh phổ biến và 95% trẻ sơ sinh được sàng lọc ít nhất 5 loại bệnh bẩm sinh phổ biến.
Đồng thời, số lượng người dễ bị tổn thương được tiếp cận, sử dụng dịch vụ tại các cơ sở chăm sóc xã hội tăng 90% so với năm 2030. Qua đó, các chính sách về y tế, dân số và an sinh xã hội được triển khai đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng dân số và sức khỏe Nhân dân trong dài hạn.
Tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, sáng 24/8, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa, xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.
