Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy gia công và bỏ lỡ cơ hội làn sóng FDI mới
Cần chuyển từ tư duy 'trải thảm đỏ đại trà' sang chính sách lựa chọn nhà đầu tư có ràng buộc trách nhiệm và đóng góp thực chất với phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Cần thu hút FDI có “chất lượng”
Phát biểu tại diễn đàn "Hoàn thiện chính sách thu hút làn sóng FDI thế hệ mới vào các khu công nghiệp”, ông Nguyễn Bá Hải - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư (Bộ Công Thương) cho biết, dòng vốn FDI vào Việt Nam lũy kế đến tháng 10/2025 đạt 525,8 tỷ USD với 44.801 dự án từ 153 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, Hàn Quốc đứng đầu về đầu tư tích lũy với hơn 10.000 dự án đầu tư, tạo việc làm hơn 1 triệu lao động.
Theo ông Hải, dòng vốn FDI có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và là động lực chính thúc đẩy xuất khẩu, đưa Việt Nam hội nhập sâu vào thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, liên kết với các doanh nghiệp nội địa còn yếu nên mức độ lan tỏa từ FDI sang doanh nghiệp nội địa còn hạn chế.
Doanh nghiệp trong nước chỉ tham gia ở các khâu giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc vào “đầu vào nhập khẩu” và “mô hình sản xuất dựa trên lắp ráp”.
Cũng theo đại diện Bộ Công Thương, doanh nghiệp FDI trả lương cao hơn khoảng 20% so với doanh nghiệp trong nước và cung cấp nhiều chương trình đào tạo nội bộ hơn song do chỉ tập trung vào lao động phổ thông làm hạn chế nâng cao kỹ năng chuyên môn trong dài hạn.
Tỷ lệ nội địa hóa thấp cũng khiến cho phần lớn giá trị xuất khẩu do FDI là giá trị linh kiện, dịch vụ nhập khẩu hoặc giá trị gia tăng nằm ở bên ngoài Việt Nam. Ở cấp độ vĩ mô, việc phụ thuộc nhiều vào FDI cũng khiến nền kinh tế dễ bị tác động bởi các biến động bên ngoài.
Nhấn mạnh thời gian tới là giai đoạn mà “chất lượng” là yếu tố trọng yếu đối với FDI, ông Nguyễn Bá Hải cho rằng, cần có chính sách lan tỏa nguồn vốn FDI và khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng.
Chuyển đổi tư duy “trải thảm đỏ đại trà”
Cùng quan điểm với ông Hải, ông Phạm Đoàn Tùng, Chủ tịch Hiệp hội Hỗ trợ Phát triển Công nghiệp Hải Phòng cho rằng nếu không tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy gia công và bỏ lỡ cơ hội từ làn sóng FDI mới trong các lĩnh vực bán dẫn, AI, năng lượng tái tạo.
Theo ông Tùng, tỉ lệ nội địa hóa của Việt Nam hiện chỉ khoảng 10%, nghĩa là tới 90% linh kiện - thiết bị phải theo các nhà thầu chính nhập khẩu vào. Con số này thấp hơn rất nhiều so với Trung Quốc (67%), Thái Lan (58%) hay Ấn Độ (53%). Hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ cũng rất mỏng, khi toàn quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp được công nhận, tương đương 0,2% tổng số doanh nghiệp và phần lớn mới chỉ đủ năng lực trở thành nhà cung cấp cấp 3 hoặc cấp 4 cho các tập đoàn lớn.
Ông Tùng cho biết, các tập đoàn đa quốc gia thường dựng hàng rào kỹ thuật khiến doanh nghiệp Việt khó tham gia chuỗi cung ứng, kéo theo việc chuyển giao công nghệ và liên kết giá trị hạn chế. Điều này khiến nền kinh tế dễ tổn thương trước biến động địa chính trị và khó nâng cấp chuỗi giá trị”.
Để tận dụng làn sóng FDI thế hệ mới, ông Tùng kiến nghị Chính phủ chuyển từ tư duy “trải thảm đỏ đại trà” sang chính sách lựa chọn nhà đầu tư có ràng buộc trách nhiệm và đóng góp thực chất đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Ông Tùng đề xuất một số giải pháp như áp dụng KPI nội địa hóa gắn với giấy chứng nhận đầu tư, kèm theo lộ trình đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ bắt buộc. Không thu hút dàn trải, mà quy hoạch theo từng vùng - ngành chiến lược như điện tử, AI, công nghệ cao,... nhằm hình thành các cụm liên kết chuyên sâu.
Dành ưu đãi về thuế và quỹ đất cho các trung tâm đào tạo nghề, R&D nước ngoài phục vụ nhóm ngành trong vùng quy hoạch. Chính sách FDI phải gắn chặt với chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, hướng đến xây dựng một nền công nghiệp thực sự của quốc gia, tương tự mô hình thành công tại các nước phát triển.
Trước đó hôm 27/11, tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV, cho ý kiến về Luật Đầu tư (sửa đổi), đại biểu Hà Sỹ Đồng (đoàn Quảng Trị) đánh giá các chính sách ưu đãi và ưu đãi đặc biệt là “xương sống” của chính sách thu hút đầu tư.
Tuy nhiên, đại biểu này cảnh báo nếu ưu đãi lớn mà không kèm điều kiện chuyển giao công nghệ thì "chúng ta mãi làm công xưởng". Đại biểu Hà Sỹ Đồng đề nghị bổ sung điều kiện tối thiểu theo hướng, dự án hưởng ưu đãi đặc biệt phải chuyển giao công nghệ đạt cấp độ hai trở lên và đào tạo ít nhất 200 lao động bậc cao cho Việt Nam mỗi năm. Nếu không hoàn thành cam kết, cần thu hồi ưu đãi và có thể xử lý phạt bội hoàn gấp đôi số tiền ưu đãi đã được hưởng.






























