Vì sao chưa thể nhập khẩu vàng?
Nghị định 232 đã mở cánh cửa nhập khẩu vàng nguyên liệu cho các doanh nghiệp, ngân hàng đủ điều kiện, nhưng việc đưa công cụ này vào thực tế đang chờ cấp phép. Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, không nên để cơ chế mới rơi vào tình trạng “có quyền nhập khẩu nhưng thực tế không nhập”.
Ngân hàng Nhà nước nói gì về điều hành thị trường vàng?
Ngân hàng Nhà nước cho biết, theo Luật Giá năm 2012 và Luật Giá sửa đổi năm 2023, vàng không phải là mặt hàng thiết yếu và không thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá. Giá mua, bán vàng vì vậy do các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng miếng chủ động niêm yết.
Ngân hàng Nhà nước chỉ thực hiện các biện pháp can thiệp, bình ổn thị trường vàng trong trường hợp giá vàng biến động bất lợi, có ảnh hưởng đến thị trường ngoại tệ, tỷ giá và chính sách tiền tệ.

Chính sách về nhập vàng đã có nhưng vẫn chưa có thực hiện?
Quan điểm này được đặt trong bối cảnh Thanh tra Chính phủ vừa qua đã chỉ ra vấn đề liên quan đến nguồn cung vàng nguyên liệu và việc Ngân hàng Nhà nước chưa thực hiện các biện pháp can thiệp thông qua nhập khẩu vàng nguyên liệu, sản xuất vàng miếng, qua đó góp phần khiến nguồn cung trên thị trường có thời điểm khan hiếm và giá vàng trong nước chênh lệch lớn so với thế giới.
Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai các giải pháp nhằm thay đổi căn bản phương thức vận hành thị trường vàng.
Chính phủ đã ban hành Nghị định 232/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng có hiệu lực từ ngày 10/10/2025, theo hướng xóa bỏ có kiểm soát cơ chế độc quyền sản xuất vàng miếng. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Thông tư 34/2025 hướng dẫn về cấp phép sản xuất vàng miếng và nhập khẩu vàng.
Tuy nhiên, thực tế cho đến giữa tháng 4 vừa qua theo cập nhật mới nhất của Ngân hàng Nhà nước có 11 đơn vị xin cấp phép sản xuất vàng miếng. Hiện, việc cấp phép và nhập khẩu vẫn chưa diễn ra.
Không nên để “có quyền nhập khẩu nhưng thực tế không nhập”
Trao đổi với PV Tiền Phong, PGS, TS. Ngô Trí Long - Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam - cho rằng, việc Ngân hàng Nhà nước thận trọng nhập khẩu vàng để tránh tạo thêm áp lực lên tỷ giá và nguồn ngoại tệ là có cơ sở.
Tuy nhiên, theo ông Long, đây không nên được xem là lý do để trì hoãn kéo dài việc đưa cơ chế nhập khẩu vàng vào vận hành thực tế.

PGS, TS. Ngô Trí Long - Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (ảnh: Dương Triều).
Theo chuyên gia, Nghị định 232 và Thông tư 34 cũng đã quy định cơ chế xác định hạn mức nhập khẩu hằng năm trên cơ sở mục tiêu chính sách tiền tệ, cung - cầu vàng và quy mô dự trữ ngoại hối. “Như vậy, hành lang pháp lý đã có và vấn đề hiện nay là vận hành công cụ đó như thế nào”, ông Long nhấn mạnh.
Ông Long cho rằng, không phải cứ có cơ chế nhập khẩu là phải nhập vàng ngay và nhập bằng mọi giá. Nếu cung - cầu trong nước thực sự cân bằng, thanh khoản tốt và chênh lệch giá với thế giới thu hẹp về mức hợp lý thì việc chưa nhập vàng trong một thời điểm nhất định là bình thường.
Sáng 10/8, giá vàng miếng SJC bán ra khoảng 143,5 triệu đồng/lượng, cao hơn giá vàng thế giới quy đổi khoảng 5 triệu đồng/lượng, chưa bao gồm thuế và chi phí. Mức chênh lệch này đã giảm rất mạnh so với những thời điểm từng lên tới hàng chục triệu đồng/lượng.
Tuy nhiên, ông Long lưu ý, chênh lệch giảm tại một thời điểm không đồng nghĩa với việc bài toán nguồn cung đã được giải quyết căn cơ. “Cần theo dõi trong một khoảng thời gian đủ dài: Giá trong nước có bám sát thế giới hay không, người dân có mua được vàng bình thường hay không, chênh lệch mua - bán ra sao, nguồn vàng nguyên liệu cho sản xuất có thông suốt hay không”, ông nói.
Nếu giá vàng trong nước lại tách xa giá thế giới do thiếu cung, ông Long cho rằng cơ chế nhập khẩu phải được kích hoạt kịp thời, thay vì để thị trường rơi vào tình trạng khan hiếm rồi mới can thiệp.
Một vấn đề khác cần được tính toán là tác động đến tỷ giá. Nhập khẩu vàng chắc chắn tạo thêm nhu cầu ngoại tệ và nếu nhập với khối lượng lớn trong thời gian ngắn có thể gây sức ép lên thị trường ngoại hối. Vì vậy, chuyên gia cho rằng không nên nhập khẩu ồ ạt, nhưng cũng không nên chuyển từ trạng thái “độc quyền nhập khẩu” sang tình trạng “có quyền nhập khẩu nhưng thực tế không nhập”.
Giải pháp hợp lý là cấp hạn mức linh hoạt, nhập từng phần theo tín hiệu cung - cầu, đồng thời lựa chọn thời điểm thị trường ngoại hối thuận lợi.
“Khi cung thiếu, phải có khả năng bổ sung; khi cung đủ, không cần nhập. Chính cơ chế nhập khẩu có điều kiện và minh bạch sẽ tạo ra van điều tiết cho thị trường, hạn chế đầu cơ, buôn lậu và những đợt chênh lệch giá bất hợp lý”, ông Long phân tích.



























