Vì sao áp lực tăng giá dầu diesel lớn hơn Brent?
Giá dầu thô Brent đã trở lại trên 90 USD/thùng khi căng thẳng Trung Đông kéo dài. Nhưng sức ép đáng chú ý hơn đang nằm ở nhiên liệu thành phẩm, khi chênh lệch giá lọc dầu diesel tại Mỹ lần đầu vượt 100 USD/thùng, phản ánh tình trạng thiếu hụt công suất lọc dầu và nguồn cung diesel toàn cầu.

Nhà máy lọc dầu St. Paul Park của Marathon Petroleum tại bang Minnesota, Mỹ. Ảnh: Tony Webster/Wikimedia Commons
Giá dầu diesel lập kỷ lục khi công suất lọc dầu thiếu hụt
Giá dầu thô tiếp tục đi lên trong phiên 18/8, khi triển vọng đạt được một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt xung đột Mỹ-Iran suy yếu. Hợp đồng tương lai dầu Brent chốt phiên ở 91,02 USD/thùng, tăng 0,17%, còn dầu WTI của Mỹ tăng 0,52% lên 84,94 USD/thùng; cả hai đều đóng cửa ở mức cao nhất kể từ ngày 24/7. Tuy nhiên, diễn biến đáng chú ý hơn lại nằm ở thị trường nhiên liệu thành phẩm.
Ngày 17/8, chênh lệch giữa giá hợp đồng tương lai diesel của Mỹ và giá hợp đồng tương lai dầu WTI, sau khi cùng được quy đổi theo đơn vị thùng dầu, đã có lúc đạt mức kỷ lục 102,20 USD/thùng, lần đầu tiên vượt ngưỡng 100 USD/thùng. Chỉ số này, thường được gọi là diesel crack spread, phản ánh mức chênh lệch giá giữa sản phẩm diesel và dầu thô đầu vào, đồng thời là một thước đo quan trọng về lợi nhuận lọc dầu.
Mức chênh lệch kỷ lục cho thấy vấn đề của thị trường dầu hiện nay không chỉ nằm ở nguồn cung dầu thô, mà còn ở khả năng biến dầu thô thành diesel, xăng và nhiên liệu hàng không.
Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), lượng dầu thô được xử lý tại các nhà máy lọc dầu toàn cầu trong tháng 7 đạt bình quân 80,9 triệu thùng/ngày, giảm khoảng 5 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động lọc dầu tại Trung Đông vẫn thấp đáng kể so với trước chiến tranh, trong khi lượng dầu được chế biến tại Nga xuống gần mức thấp nhất trong khoảng hai thập kỷ.
Nguồn cung diesel vì thế co lại rõ rệt. IEA ước tính xuất khẩu diesel từ Nga, Trung Đông và các nhà cung cấp lớn tại châu Á trong tháng 7 thấp hơn khoảng 1,3 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương khoảng một phần năm lượng diesel vận chuyển bằng đường biển mà các nước nhập khẩu phụ thuộc.
Tại châu Âu, mức chênh lệch giữa giá diesel và dầu Brent – một chỉ báo tương đối về lợi nhuận từ việc chế biến dầu thô thành diesel – đã tăng gần gấp ba, từ khoảng 25 USD/thùng đầu năm lên hơn 70 USD/thùng. Tồn kho gasoil tại trung tâm Amsterdam-Rotterdam-Antwerp cũng thấp hơn 24% so với mức trung bình 5 năm.
Mỹ đang trở thành một nguồn cung thay thế quan trọng, nhưng điều này lại gây thêm áp lực lên kho dự trữ trong nước. Tồn kho sản phẩm chưng cất của Mỹ, bao gồm diesel và dầu sưởi, đã xuống mức thấp nhất đối với tháng 8 kể từ năm 1996, dù các nhà máy lọc dầu nước này đã tăng sản lượng và xuất khẩu.
Áp lực còn xuất hiện đúng thời điểm nhu cầu diesel tăng theo mùa. Các hoạt động thu hoạch tại Bắc bán cầu và gieo trồng ở Nam bán cầu làm gia tăng nhu cầu nhiên liệu cho máy kéo, máy gặt và các thiết bị nông nghiệp khác. Diesel đồng thời được sử dụng rộng rãi trong vận tải và công nghiệp, nên nhu cầu từ xe tải, nông trại và nhà máy thường khó cắt giảm nhanh.
Sức ép trên thị trường diesel càng đáng chú ý khi khủng hoảng tại eo biển Hormuz chưa cho thấy dấu hiệu kết thúc. Dòng dầu qua eo biển này từ đầu tháng 8 đến nay chỉ khoảng 2 triệu thùng/ngày, so với khoảng 18 triệu thùng/ngày trước chiến tranh và 4,8 triệu thùng/ngày trong tháng 7.
Dù vậy, đã xuất hiện một số dấu hiệu nguồn cung được cải thiện khi Saudi Aramco nối lại hoạt động bốc dầu từ phía trong eo biển Hormuz và cung cấp một số lô hàng thông qua hình thức chuyển dầu giữa các tàu ngoài khơi Fujairah. Tuy nhiên, lưu lượng tàu qua eo biển vẫn ở mức rất thấp và hoạt động xuất khẩu của Saudi Arabia vẫn bị hạn chế đáng kể so với trước khủng hoảng.
Giá dầu thô chưa “nói hết” áp lực nhiên liệu
Giá dầu thô và giá nhiên liệu thành phẩm không nhất thiết biến động cùng một nhịp. Dầu thô chỉ là nguyên liệu đầu vào; giá diesel, xăng hay nhiên liệu hàng không còn phụ thuộc vào công suất lọc dầu, tồn kho, chi phí vận chuyển và khả năng đưa sản phẩm từ nơi dư thừa tới thị trường thiếu hụt.
Một tín hiệu hỗ trợ đang đến từ Trung Quốc. Số liệu hải quan công bố ngày 18/8 cho thấy xuất khẩu sản phẩm dầu tinh chế của nước này trong tháng 7 đạt 4,65 triệu tấn, tăng 6,7% so với tháng 6 nhưng vẫn giảm 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Riêng xuất khẩu diesel tăng 88% so với tháng trước lên 810.000 tấn, gần trở lại mức của tháng 7 năm ngoái. Việc Trung Quốc nới hạn chế và tăng xuất khẩu có thể phần nào giảm sức ép lên thị trường nhiên liệu toàn cầu, dù chưa đủ để bù khoảng thiếu hụt do nguồn cung từ Trung Đông và Nga suy giảm.
Ở Mỹ, chính quyền cũng đang tìm cách tăng nguồn cung. Bộ trưởng Năng lượng Chris Wright ngày 17/8 cho biết Washington sẽ công bố trong vài ngày tới các biện pháp nhằm giúp các nhà máy lọc dầu tăng sản lượng nhiên liệu. Tuy nhiên, mức diesel crack kỷ lục cho thấy các nhà máy đã có động lực kinh tế rất lớn để tối đa hóa sản lượng; vấn đề chủ yếu là thiếu nguồn cung thay thế trên phạm vi toàn cầu.
Vì vậy, dư địa giải quyết tình trạng thiếu hụt chỉ bằng việc tăng thêm sản lượng tại Mỹ có thể không lớn nếu công suất lọc dầu tại Trung Đông và Nga chưa phục hồi. Đây cũng là lý do giá nhiên liệu vẫn có thể duy trì ở mức cao ngay cả khi dầu thô không tăng tương ứng.
Tác động của tình trạng thiếu diesel không dừng lại ở cây xăng. Đây là nhiên liệu thiết yếu đối với xe tải, máy móc nông nghiệp và nhiều hoạt động công nghiệp; vì thế, giá diesel tăng có thể lan sang chi phí vận tải, logistics và sản xuất.
Bởi vậy, dầu thô Brent trên 90 USD/thùng hiện nay mới chỉ phản ánh một phần sức ép của thị trường năng lượng. Điều đáng theo dõi hơn là khi nào công suất lọc dầu và nguồn cung diesel toàn cầu có thể phục hồi. Chừng nào nút thắt này chưa được tháo gỡ, giá nhiên liệu vẫn có thể neo cao ngay cả khi dầu thô không trở lại các đỉnh trước đó.

