Vị quê từ thuở hoài thai

Ai đó nơi phố thị phồn hoa có thể ngạc nhiên, hoài nghi khi nghe kể về cái danh xưng 'dân ăn đất', nhưng với tôi, đó là niềm tự hào…

Những hình ảnh về tập tục "ăn đất" của người Lập Thạch còn sót lại.

Những hình ảnh về tập tục "ăn đất" của người Lập Thạch còn sót lại.

1. Đôi khi, ký ức quê hương không chỉ gọi về qua mùi rơm rạ ngày mùa hay sắc vàng miên man của hoa cải ven sông, màu tím của sim mua bên bờ ruộng, mà còn hiện hình qua một thứ quà mộc mạc đến lạ kỳ - “đất hun”. Người nơi khác có dịp đi qua vùng mỏ thạch cao Lập Thạch quê tôi trước đây, nghe kể chuyện dân làng lấy đất gọt lát mỏng hun lá sim ăn thì thường tặc lưỡi chê cười, gọi bằng cái tên đầy ái ngại - “dân ăn đất”.

Nhưng với tôi, đó lại chính là “vị quê từ thuở hoài thai”. Hương vị bùi béo, ngậy thơm ấy đã thấm vào máu thịt tôi từ những ngày còn nằm trong bụng mẹ, để rồi theo tôi suốt những năm tháng tuổi thơ cùng đám bạn bè tíu tít nơi phiên chợ Lối.

Mẹ tôi kể, ngày mang thai tôi, cơn nghén kéo đến vật vã, hành hạ người phụ nữ thôn quê gầy gò đến xanh xao. Nhà còn nghèo, nhưng cũng đủ thứ ăn bình dị như bánh sắn, bánh tẻ, bún, bánh cuốn cũng có thể mua cho mẹ ăn qua cơn nghén. Nhưng mẹ đều chối từ mọi thứ, duy chỉ có một thứ khiến mẹ thèm đến cồn cào gan ruột - đất ngói. Một buổi chiều muộn, bố lại đi tới vùng có mỏ cao lanh, chọn những khối thạch cao trắng, mịn màng nằm sâu trong lòng đất mang về hun để mẹ ăn dần.

Tình mẫu tử và tình phụ tử thiêng liêng thuở ấy, không ngờ lại được nối kết từ một cục đất quê mộc mạc. Những cơn nghén lạ lùng ấy khi có “cục đất hun lá sim” là mẹ khỏe khoắn hơn và góp phần nuôi dưỡng hình hài tôi.

Ăn đất ngói không đơn thuần là một thói quen, mà là cả một nghệ thuật chế biến kỳ công của những con người chân lấm tay bùn. Cục thạch cao thô sơ mang về được bàn tay khéo léo của người làng gọt đẽo, tỉ mẩn xén thành từng lát mỏng, vuông vắn như những viên ngói nhỏ, có lẽ vì thế mà dân làng gọi tên món này là “ngói”. Công đoạn thổi hồn cho đất chính là lúc hun khói. Người ta nhóm lên một bếp củi rực hồng, rồi phủ một lớp lá sim rừng tươi roi rói lên trên để tạo khói. Những lát đất gọt mỏng được xếp ngay ngắn trên vỉ, đặt trên làn khói sim nghi ngút. Khói sim có vị chát ngọt, nồng nàn cứ thế quyện chặt, thấm đẫm vào từng thớ đất thạch cao, hun cho đến khi miếng đất chuyển sang màu vàng rám như màu mật ong, tỏa ra thứ hương thơm ngái. Cắn một miếng đất hun, vị giòn rụm tan nhanh trên đầu lưỡi, để lại cái vị bùi bùi, ngậy béo đặc trưng của đất, hòa cùng mùi khói bếp thân thương. Với dân làng tôi, đó là cái vị thanh tao, có lẽ không một thứ bánh trái đắt tiền nào sánh được.

Đất được lấy về ăn.

Đất được lấy về ăn.

2. Khi tôi lớn lên, món đất hun không còn gói gọn trong góc bếp giải nghén của mẹ, mà đã trở thành thứ quà vặt phổ thông gắn liền với những phiên chợ Lối nghèo xơ xác. Ngày ấy, những đồng tiền lẻ trong túi lũ trẻ chúng tôi bao giờ cũng phải ưu tiên cho việc học, rồi mới đến việc chơi. Chúng tôi rủ nhau ra chợ, săm soi lục lọi từng gian hàng để mua cho kỳ được cuốn vở có dòng kẻ, cây bút tre, cục mực tím hay mấy viên bi ve xanh đỏ. Chỉ khi nào chiếc túi áo sờn cũ vẫn còn dư lại vài ba cắc bạc lẻ, cả bọn mới dám bấu víu nhau sà vào thúng đất hun để thỏa mãn cơn thèm. Nhưng vui nhất vẫn là những lần tiền lẻ khan hiếm, bà hàng xén không đào đâu ra tiền xu để trả lại cho khách. Bà cười hiền hậu, bốc mấy lát đất ngói vàng rụm bọc vào tờ báo cũ đưa cho, bảo: “Thôi, bà trả lại bằng ngói nhé!”. Cái giao kèo không lời bằng thứ tiền tệ bằng đất ấy sao mà đáng kính và tình nghĩa đến thế! Lũ trẻ nhận tiền trả lại mà mừng như bắt được vàng, vừa đi bộ về làng vừa nhai ngói giòn tan, mặt mũi lấm lem nhưng ngập tràn tiếng cười rộn rã.

Năm tháng cứ thế trôi đi như một dòng sông mải miết. Mỏ thạch cao Lập Thạch xưa nay, giờ là xã Lập Thạch, Phú Thọ, vẫn là dấu tích của một thời vang bóng. Chợ Lối hôm nay cũng đã khoác lên mình tấm áo mới của những nhà tầng, quán xá khang trang, nhiều hàng hóa, nhộn nhịp xe cộ. Những đồng tiền xu thuở nào đã lùi vào quá khứ, và tục “ăn ngói” cũng dần thưa vắng theo bước chân của những bậc cao niên. Thế nhưng, “vị quê từ thuở hoài thai” ấy chưa bao giờ nhạt phai hay biến mất trong tâm thức của những người con xa xứ. Miếng đất hun khói sim ngày cũ không còn là một món ăn cứu nghén, không còn là đồng tiền trả lại nơi góc chợ nghèo, mà đã hóa thạch thành biểu tượng của tình mẫu tử thiêng liêng, thành sợi dây neo giữ tâm hồn tôi với cội nguồn.

Ai đó nơi phố thị phồn hoa có thể ngạc nhiên, hoài nghi khi nghe kể về cái danh xưng “dân ăn đất”, nhưng với tôi, đó là niềm tự hào. Bởi trong thớ đất ngầm sâu thẳm của quê hương, có vị mồ hôi mặn mòi của cha, có tình yêu thương chở che của mẹ, và có cả những nụ cười trong trẻo thời thơ dại. Dù sau này có đi đến góc bể chân trời, nếm trải bao nhiêu phong vị của nhân gian, tôi thấy mình vẫn mãi là đứa trẻ năm nào, luôn đau đáu ngoảnh đầu về phía khói bếp hoàng hôn, nơi có mùi đất mẹ nồng đượm đã nuôi lớn hình hài mình từ khi chưa có tiếng khóc chào đời.

ĐĂNG NGỌC

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/vi-que-tu-thuo-hoai-thai.html