Vệt hành trình vô tận

Thời chiến, con người có thể làm nên những điều phi thường. Năm 1967 và 1969, nhiều chiến sĩ đã đi bộ xuyên núi từ miền Trung vào tận Củ Chi, Tây Ninh để dự các Đại hội Chiến sĩ thi đua miền Nam do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức.

Cả chặng đi và về ước tính gần 4.000 km, chủ yếu theo đường rừng núi, gian khổ và hiểm nguy. Trên hành trình ấy, mỗi khi mệt mỏi, mọi người lại nhắc nhau giữ vững tinh thần của người đảng viên để tiếp tục bước tới.

Hành trình kéo dài 3 tháng diễn ra trong bối cảnh chiến trường miền Nam bước vào giai đoạn vô cùng ác liệt. Đầu năm 1967, Mỹ đẩy mạnh chiến lược “tìm và diệt”, dựa vào hỏa lực pháo binh, không quân và khả năng cơ động bằng trực thăng để càn quét, đánh phá.

Giữa vòng vây chiến tranh khốc liệt, dưới tán rừng Trường Sơn, một đoàn chiến sĩ vẫn âm thầm vượt núi rồi lại quay trở về, mang theo câu chuyện về ý chí và sức bền khó hình dung của con người thời ấy.

Anh hùng lực lượng vũ trang Ngô Thanh Trang

Anh hùng lực lượng vũ trang Ngô Thanh Trang

Đồi đồi, dốc dốc

Đầu năm 1967, những cánh rừng già nằm trên dãy Trường Sơn không còn là pháo đài an toàn nữa. Trực thăng OH-6 Cayuse trông giống như quả trứng khủng long, gắn đại liên gatling 6 nòng, tốc độ bắn 4.000 viên/phút liên tục xuất hiện trên các sườn núi hoang vu để tìm kiếm dấu vết đường mòn. Bên cạnh đó là trực thăng Bell UH-1 Iroquois ầm ĩ suốt ngày trên ngọn cây. Hồ Kan Lịch từ Huế đi bộ vào vùng Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam để nhập đoàn đi bộ vào Củ Chi.

Cựu chiến binh Ngô Thanh Trang nhớ nhất chặng qua trạm giao liên Bình Định. Mỗi sáng sớm, giao liên mới thông báo hướng đi trong ngày. Đoàn thường hành quân xuyên đêm, tuyệt đối không được bật lửa để tránh lộ vị trí. Dù những cơn sốt rét rừng liên tục hành hạ, ông vẫn gắng bám đoàn, không để mình tụt lại phía sau.

Cựu chiến binh Ngô Thanh Trang, quê Quảng Ngãi, nhớ lại: Sau một cuộc họp ngắn, đơn vị nhận nhiệm vụ hành quân vào miền Nam. Đoàn có khoảng 25 người, được chia làm hai mũi. Một đoàn do một đồng chí cấp Trung tướng làm trưởng đoàn; đoàn của ông do ông Lương - cán bộ tuyên huấn phụ trách. Mật khẩu liên lạc khi gặp nhau cũng được quy định rất rõ: Hỏi “Campuchia”, đáp “Trà Bồng”.

Đoàn công tác là đoàn A, vì vậy có du kích, có người nấu ăn, có đặc công và trinh sát đi theo bảo vệ, dò đường. Mỗi người lính chỉ mang 1 khẩu K59, còn đặc công mang AK. Các chiến sĩ Ngô Tấn Tĩnh, Võ Tòng, Ngô Sĩ Duy, Võ Lai, Hồ Kan Lịch chia sẻ, chỉ lo có người sốt rét thì sẽ phải tách đoàn, hoặc đoàn sẽ bị đi chậm lại. Ông Ngô Thanh Trang thì hỏi mọi người về kinh nghiệm nếu gặp cọp dữ từng ăn thịt người và thành tinh.

Từ Huế đi bộ vào Quảng Nam thì phải qua các địa danh nguy hiểm như Bến Giằng (Nam Giang), Khâm Đức (Phước Sơn). Còn từ Nam Trà My đi vào Quảng Ngãi, để an toàn, đoàn được giao liên dẫn đi tuyến đường hiểm trở, ít gần làng bản. Ngày đầu tiên là một cuộc hành trình lên đỉnh dốc, từ sáng tới trưa thì gặp một trạm giao liên với mấy cô gái ở trên đỉnh núi.

Các cô gầy như dây rừng, tóc rụng hói đầu, quần áo bà ba vá mấy miếng. Vì là đoàn A nên được dẫn đi theo tuyến giao liên có lương thực, không phải tự đi kiếm rau rừng, ăn củ, ốc như ở tuyến khác.

Mưa rừng, muỗi vắt

Sau khi ăn trưa xong, đoàn lại tiếp tục hành trình chui qua từng trảng rừng già và từ từ tụt xuống dưới chân đồi. Khi tới nơi thì trời đã về chiều và lại tiếp tục bữa ăn ở trạm giao liên thứ 2 dưới chân dốc. Năm ngày đầu tiên của cuộc hành trình cứ lặp lại sáng lên đỉnh, chiều xuống dốc, hết dốc Trà My của tỉnh Quảng Nam tới dốc núi ở Trà Bồng của tỉnh Quảng Ngãi.

Để giữ bí mật, đoàn đi vào những ngọn núi thăm thẳm, nửa buổi sáng vẫn còn sương mù. Có lúc anh em tự hỏi nhau, không biết có đi qua núi Răng Cưa hay không? Bởi vì núi Răng Cưa có nhiều hang đá, cọp sống thành từng đàn, ngay cả người đồng bào cũng sợ hãi trước mãnh thú thời kỳ đang khá đông đúc nên gọi cọp là bok, đi rừng thì đeo nanh heo, cúng đầu trâu để mong cọp đừng về bắt người.

Thỉnh thoảng trên bầu trời lại có tiếng vo vo của máy bay trinh sát L19. Người giao liên dẫn đường bao giờ cũng nằm rạp xuống trước rất mau lẹ. Rừng lúc đó vô cùng rậm rạp. Chỉ một loáng, đoàn người đã biến mất dưới những gốc cây đại thụ, hoặc ẩn mình, nằm im phăng phắc trên những đồi cỏ tranh.

Một đoạn đường mòn trên dãy Trường Sơn, qua địa phận Quảng Nam, từng là tuyến hành quân của Đoàn chiến sĩ thi đua. Dọc lối đi còn rải rác mộ liệt sĩ và đền thờ tưởng niệm...

Một đoạn đường mòn trên dãy Trường Sơn, qua địa phận Quảng Nam, từng là tuyến hành quân của Đoàn chiến sĩ thi đua. Dọc lối đi còn rải rác mộ liệt sĩ và đền thờ tưởng niệm...

Khi đến một hẻm núi giữa Quảng Ngãi và Quảng Nam vào buổi chiều, đoàn người lại phải nhanh chóng mắc tăng, võng trên cây, sột soạt mở tấm áo mưa ra che trên đầu, vì đêm xuống là những cơn mưa rừng nặng hạt. Khi có mưa thì muỗi, vắt đu khắp nơi, tiếng ếch nhái và muông thú như một bản hợp xướng.

“Nếu nghe mùi thối, tanh tanh, nồng nồng là nằm im, không ai được cựa quậy hết, cọp sẽ bắt người nào rung rung bàn chân”; “Không, cọp chỉ bắt người nằm giữa, vì nó vồ một phát giữa đám người”; “Cọp sẽ bắt người ngáy. À, thằng Tòng Quảng Nam là ngáy to nhất”... Mọi người ồn ào về chuyện tối nay không biết ông cọp có mò tới khu vực đoàn công tác treo võng đung đưa hay không.

Ý kiến về phòng cọp được thảo luận hằng đêm trong cái tối tăm như hũ nút của rừng núi. Những cánh rừng giáp ranh giữa Quảng Ngãi và Quảng Nam, tiếng vượn kêu hú suốt ngày, đêm về nghe những âm thanh sột soạt rất lạ. Người dân tộc đều tin ma rừng và họ bày cho anh em, nghe âm thanh lạ thì khấn nguyện: “Ta đi làm nhiệm vụ cách mạng, không phá nhà của ngươi, ngươi đi đường của ngươi, ta đi đường của ta”.

Cứ buổi sáng, đoàn công tác lại tiếp tục hướng về phía Nam trên con đường mòn, thỉnh thoảng lại gặp một nhóm cán bộ đi ngược hướng. Nhưng tất cả im lặng. Có người nhìn lên bầu trời giống như ra chỉ dấu về việc đề phòng hành trình bị lộ, không biết tuyến này có ai mới chiêu hồi hay bị trực thăng hạ xuống bắt sống hay không?

Khi đoàn vượt qua khỏi địa phận Quảng Ngãi, qua địa phận tỉnh Kon Tum thì phát hiện cô giao liên khoảng ngoài hai mươi tuổi nằm chết dưới gốc xoài, quanh người cô là 27 hột xoài ăn dở. Cái chết của cô gái giao liên trở thành nỗi thương cảm ám ảnh mọi người.

Ông Trang nhớ lại lần đi công tác qua binh trạm trước đó và cũng chứng kiến một phụ nữ trong đoàn ra suối rửa tay, sau đó bất ngờ lên cơn co giật. Ông chạy tới thì cô ra hiệu tháo giúp chiếc nhẫn trong ngón tay, sau đó cô tắt thở.

Qua vùng nguy hiểm

Hơn 10 ngày ròng rã trôi qua, hết đèo lại dốc, hình ảnh cô giao liên bên bờ suối hoặc trên đỉnh núi cứ lặp đi lặp lại. Khi đoàn công tác tới khu vực đèo Hoài Ân, mọi người phải sẵn sàng cắt qua tuyến đường 19, nơi xe Jeep của lính ngụy thường lao đi như bay. Đây là địa bàn oanh tạc của Sư đoàn 1 Không kỵ Mỹ; từ các căn cứ Vĩnh Thạnh, Bồng Sơn, máy bay C-7 Caribou liên tục đáp xuống, còn lính từ Chi khu Hoài Ân thường đi phục trên đường.

“Có mai phục, gần đường 19!”, trinh sát đi trước mở đường báo cáo. Cả đoàn công tác lập tức lùi lại, ém mình trong rừng. Lúc ấy, mọi người mới có cảm giác khu vực này rừng sao thưa thớt và trống trải. Chờ đợi suốt 2 ngày, từng người lần lượt băng qua đường, chạy nhanh tới chân núi rồi thả mình xuống một thung lũng sâu.

Sau những ngày mệt mỏi và căng thẳng, lại thêm 2 ngày liên tục không có nước uống, các bi đông đều khô cạn. Cơn khát khiến ai cũng nhắc tới hy vọng gặp được những loại cây rừng có thể chặt ra lấy nước như cây gùi, mây, lồ ô, chuối rừng. Rồi khi phát hiện một bụi chuối rừng, mọi người ùa tới chặt thân chuối để vắt lấy nước, sau đó ăn lương khô 701. Chị Nguyễn Thị Thanh và một chiến sĩ bị sốc nước chuối, trợn mắt, ngạt thở, co giật...

(Còn tiếp)

LÊ VĂN CHƯƠNG

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/doi-song/vet-hanh-trinh-vo-tan-223177.html