Văn học Việt:Nhìn lại để đi tới

Văn học Việt Nam 40 năm Đổi mới như một dòng chảy với những cửa mở, những lối rẽ và cả những điểm bùng nổ để đi đến diện mạo hôm nay. Khi đất nước bước mạnh hơn vào kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo là thời điểm thích hợp để nhìn lại hành trình văn học 4 thập niên qua, để thấy những thành tựu, những khoảng thiếu và những hướng đi đang mở ra.

Độc giả sẵn sàng đón nhận những tác phẩm văn học manh tinh thần đổi mới. Ảnh: Phan Anh

Độc giả sẵn sàng đón nhận những tác phẩm văn học manh tinh thần đổi mới. Ảnh: Phan Anh

Thành tựu và giới hạn

Ngay từ những năm đầu Đổi mới, một số tác phẩm đã tạo thành bước ngoặt tư duy thẩm mỹ, đánh dấu sự dịch chuyển sang ý thức phản tỉnh mạnh mẽ. “Cỏ lau” (Nguyễn Minh Châu) đặt con người cá nhân, với những xung đột nội tâm, vào vị trí trung tâm của tự sự. “Thời xa vắng” (Lê Lựu) nhìn thẳng những ám ảnh chiến tranh và hậu chiến với những trói buộc tinh thần cần cởi thoát. Những tác phẩm này không chỉ làm mới lối viết, mà còn mở không gian tự do hơn cho ngôn ngữ, cho giọng nói riêng tư và cho những vùng khuất ẩn của đời sống.

Sự đa dạng hóa là đường nét nổi bật của văn học Đổi mới. Từ nông thôn (“Mảnh đất lắm người nhiều ma” - tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Trường, “Cánh đồng bất tận” - truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư), đến thành thị (“Chuyện cũ Hà Nội” - ký sự, hồi ức của Tô Hoài), đến dân tộc - miền núi (“Tiếng hát tháng Giêng” - thơ của Y Phương, “Tôi đã trở về trên núi cao” - tản văn của Đỗ Bích Thúy), đến biển đảo (“Trường ca Biển” - trường ca của Hữu Thỉnh, “Đảo chìm” - truyện ký của Trần Đăng Khoa). Từ miền văn hóa tâm linh (“Mẫu Thượng Ngàn” - tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh), đến bi kịch trí thức (“Đám cưới không có giấy giá thú” - tiểu thuyết của Ma Văn Kháng), đến chiến tranh - hậu chiến (“Tướng về hưu” - truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, “Bến không chồng” - tiểu thuyết của Dương Hướng, “Mình và họ” - tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, “Những ngọn sóng mặt trời” - trường ca của Thanh Thảo, “Gia đình, bạn bè và đất nước” - hồi ký của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình)... Tất cả cho thấy, văn học không còn bó hẹp trong một mô hình duy nhất. Hiện thực và huyền ảo, truyền thống và hiện đại, sử thi và đời tư, được thử nghiệm rộng rãi, tạo nên một “bản đồ” thẩm mỹ mở, đa tầng.

“Mảnh đất lắm người nhiều ma” phản ánh bức tranh nông thôn đầy biến động khi cơ chế thị trường len vào từng xóm làng. “Mẫu Thượng Ngàn” đưa tín ngưỡng dân gian, căn tính văn hóa và lịch sử triền miên của làng Việt vào trong cấu trúc tự sự mang tính chiêm nghiệm sâu rộng. “Tướng về hưu” trình hiện lối viết sắc lạnh, lấp lửng, đặt nhân tính vào thử thách gay gắt của dục vọng, quyền lực và giới hạn đạo đức. “Cánh đồng bất tận” đem đến một giọng văn nữ miền Tây dữ dội mà tinh khiết, khắc sâu bi kịch của những phận người. “Tiếng hát tháng Giêng” là tiếng nói của một bản thể vừa riêng tư vừa cộng đồng, mang vẻ đẹp của văn hóa Tày đồng thời chất chứa những đau đáu của con người trong hành trình tự khám phá mình. “Bến không chồng” thấm đượm những mất mát của làng quê thời chiến và hậu chiến, là một bi kịch lịch sử nhưng cũng là bi kịch của những người đàn bà cả đời chịu đựng trong âm thầm. “Mình và họ” mở ra không gian huyền ảo, nơi chiến tranh không chỉ là sự kiện mà còn là trạng thái tinh thần, là nỗi ám ảnh đa tầng lan vào giấc mơ và các chiều sâu vô thức. “Đảo chìm" bằng giọng viết bình dị nhưng day dứt, khắc họa đời sống của những người lính biển đảo Trường Sa với những gì chân thực nhất. “Chuyện cũ Hà Nội” là một di sản quý giá, tái hiện sâu sắc những phong tục, nếp sống và sự “liền lòng” của văn hóa Hà thành qua nhiều biến thiên...

Không khó để nhận ra những ưu điểm nổi bật của văn học 40 năm Đổi mới: Tính nhân bản, đặt con người vào trung tâm, không né tránh tổn thương, mất mát, nhưng cũng luôn tìm kiếm ánh sáng của thiên lương; tính đa dạng, phong phú, thể hiện qua đề tài, thể loại, bút pháp...; tính hội nhập và số hóa, với những thử nghiệm lý thuyết mới, xuất bản đa phương tiện, cơ chế vận hành đa trung tâm - nơi mỗi tác phẩm phải tìm được cộng đồng đọc của mình.

Dù đã đổi mới mạnh mẽ, văn học vẫn còn những hạn chế đang đợi được khắc phục: Những tác phẩm quy mô lớn, có sức lan tỏa quốc tế chưa nhiều; có sự xuất hiện của các cây bút trẻ ít nhiều tài năng, nhưng chưa hình thành đội ngũ đông đảo với phong cách thật sự khác biệt; tính chuyên nghiệp trong xuất bản, quảng bá còn chưa cao, khiến nhiều tác phẩm hay chưa đến được với công chúng rộng rãi trong và ngoài nước.

Thách thức và cơ hội

Bước vào thời đại hệ sinh thái số, văn học đứng trước những cơ hội và thách thức mới: Trí tuệ nhân tạo mở ra khả năng hỗ trợ sáng tác, phân tích dữ liệu, gợi ý ngôn ngữ... nhưng đồng thời đặt ra câu hỏi lớn về tính độc sáng, bản quyền tinh thần của con người trong sáng tạo nghệ thuật. Văn học sắp tới sẽ là cuộc đối thoại giữa chủ thể sáng tạo và thuật toán, nơi các tác giả phải giữ được giọng nói bản thể, không bị lẫn vào thứ ngôn ngữ “bão hòa” của máy móc.

Toàn cầu hóa và mạng xã hội tạo môi trường để tác phẩm lan tỏa nhanh hơn, nhưng cũng đòi hỏi nhà văn hiểu sâu hơn về bản sắc văn hóa để không bị cuốn trôi. Những tác phẩm như “Tiếng hát tháng Giêng” hay “Mẫu Thượng Ngàn” chứng minh rằng càng đi xa, văn học càng cần trở về với căn cốt dân tộc để có nền mà bật lên. Những tác phẩm viết về Hà Nội như “Một người Hà Nội” (Nguyễn Khải), “Phố” (Chu Lai), “Dằng dặc triền sông mưa” (Đỗ Phấn), “Thị dân tiểu thuyết” (Nguyễn Việt Hà) củng cố xác tín, nếu ngụp sâu vào tâm hồn một vùng đất thì tác phẩm đủ sức tự tin mở ra những cuộc gặp gỡ không giới hạn.

Nhìn lại 4 thập niên, có thể thấy văn học đã trưởng thành bằng chính những va đập, dấn thân, thử nghiệm của rất nhiều cây bút. Những tác phẩm nổi bật không chỉ kể lại lịch sử tâm hồn một dân tộc, mà còn mở lối cho tương lai bằng chính khả năng tự đổi mới không ngừng.

Đi tới, văn học Việt Nam cần gì?

Cần sự can đảm đối diện sự thật; cần sự tinh tế để lắng nghe con người thời đại; cần trí tưởng tượng, trải nghiệm riêng tư, sự run rẩy trắc ẩn, “vân chữ”, sự thăng hoa cảm hứng... để bước vào không gian số mà không đánh mất mình.

Cần thật nhiều tiếng nói phê bình dũng cảm, tinh tế, đóng vai trò "người gác cổng" có tầm nhìn, không chỉ đánh giá mà còn dự báo, kiến tạo nên các chuẩn mực thẩm mỹ mới, dẫn dắt độc giả trong không gian văn chương đa chiều, phức tạp.

Và trên hết, cần niềm tin rằng, nghệ thuật ngôn từ - dù trong thời đại nào - vẫn có sức mạnh nâng đỡ con người, mở ra hy vọng, kết nối thế hệ và làm nên bản sắc tinh thần của một đất nước.

Năm 2026 - năm con Ngựa - gợi mở tinh thần dũng mãnh, vượt chướng ngại để bứt phá. Sau 4 thập kỷ Đổi mới, văn học Việt Nam đã đủ độ chín để bước sang một chu trình trưởng thành hơn: Đào sâu vào nội lực văn hóa, mở rộng tầm nhìn, sẵn sàng đối thoại với thế giới. Nếu không ngừng kiến tạo bản sắc và bản lĩnh, không thôi tự tin và kỳ vọng, thì văn chương Việt sẽ tiếp tục đồng hành cùng cộng đồng, bồi đắp tinh thần quốc gia, và định vị mình trên bản đồ văn chương quốc tế.

Hoàng Đăng Khoa

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/van-hoc-viet-nhin-lai-de-di-toi-734130.html