Văn hóa tộc người thử nhìn từ cộng đồng Pu Péo
Người Pu Péo có mặt tại Việt Nam cách nay khoảng trên 300 năm và có liên hệ thân thuộc với những người đồng tộc thuộc châu Văn Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Pu Péo là tộc người hầu như chỉ có mặt ở Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang), cư trú chủ yếu tại các xã Phố Bảng (trước đây thuộc khu vực xã Phố Là, Đồng Văn), Thắng Mố và Bạch Đích (trước đây thuộc khu vực các xã Sủng Cháng và Phú Lũng, Yên Minh), Yên Cường (thuộc khu vực Bắc Mê cũ) và rải rác ở một vài nơi khác. Người Pu Péo nói ngôn ngữ Tày - Thái nhưng gần với tiếng Tày - Nùng hơn. Trong tiếng Tày - Nùng, 'Pu' có nghĩa là 'người'; 'Péo' là cách gọi chệch đi của tên tự gọi là 'Ka Bao' trước đây. Theo số liệu thống kê gần đây thì dân số người Pu Péo hiện nay là 233 hộ với 903 người (riêng khu vực Hà Giang cũ có 771 người). So với thống kê năm 2006 là 584 người, thuộc vào số vài tộc người có số dân ít nhất trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam (1).

Người dân Pu Péo, xã Thắng Mố gìn giữ trang phục truyền thống.
Trong tập Dân ca Pupéo (Nxb VHDT, H.1993), các nhà sưu tầm đã kể lại những sinh hoạt dân ca của đồng bào Pu Péo mà chắc chắn sẽ làm ngỡ ngàng bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Giao thừa! Năm mới đến, đúng lúc gà vỗ cánh sắp gáy, người ta đốt quả pháo, ném vào chuồng gà để nó giật mình im tiếng. Vì tiếng gà gáy đã hay lại thiêng liêng, vì gà đánh thức được mặt trời dậy. Cho nên con người phải át tiếng gà, thay tiếng mình vào thì năm đó sẽ hát hay và hạnh phúc. Người ta coi dân ca như mạch sống của giống nòi, người trẻ “nối tài người già”. Luyện dạy và truyền tiếng hát vào giờ thiêng - giao điểm của năm cũ và năm mới là một mỹ tục định kỳ.
Trong dịp chúng tôi tiến hành khảo sát văn hóa cổ truyền của một số tộc người ở Hà Giang, trong đó có cộng đồng Pu Péo, đem đối chiếu với những nội dung đã từng được các tài liệu nghiên cứu trước đây đề cập và mô tả thì thấy về cơ bản đồng bào Pu Péo vẫn giữ được một cuộc sống khá ổn định. Dĩ nhiên cuộc sống hiện tại của tộc người Pu Péo mang những nét sinh hoạt chung của phần lớn các cộng đồng khác tại địa bàn vùng cao phía bắc của tỉnh. Thực chất đây là một cuộc sống đang chịu nhiều áp lực biến động. Song không thể không nhận thấy rằng đối với đồng bào Pu Péo, truyền thống thực sự vẫn còn giàu sức sống mạnh mẽ.
Nhìn chung có thể coi người Pu Péo thuộc vào số những tộc người có một bản lĩnh văn hóa cao với những thiết chế cổ truyền khá nghiêm ngặt và bền vững. Cho đến những năm gần đây các luật lệ trong cưới xin, ma chay và nhiều tập tục khác của người Pu Péo vẫn là những luật bất thành văn hết sức có hiệu lực. Tuy nhiên qua khảo sát cũng cho thấy nguy cơ mai một thường trực và trước những áp lực khách quan, các di sản vật chất cũng như tinh thần khó lòng đứng vững. Do quan niệm, do nhận thức có những thay đổi cho nên xu thế biến đổi dần các chuẩn mực cũ cho thích hợp sẽ là tất yếu.
Chúng ta đang nói về những chuẩn mực xã hội cũ trong một mối quan hệ hoàn toàn mới. Hiện nay theo chính sách chung, người Pu Péo đang đẩy nhanh công cuộc xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu bình đẳng với các tộc người khác. Chính vì thế tất cả các mô hình kinh tế sản xuất và đời sống không còn nguyên vẹn theo như trước nữa mà đang thay đổi một cách nhanh chóng. Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi các chuẩn mực cũ của người Pu Péo cũng đang mất dần hiệu lực. Thậm chí trong ngày cưới một số nơi thanh niên cũng không thích mặc trang phục truyền thống, dù chỉ là để làm vừa lòng người già. Hơn nữa việc dệt may trang phục thủ công trong thời đại ngày nay đã thực sự không còn thích hợp nữa. Qua khảo sát cho thấy trong cộng đồng, những người có thể nhớ, kể chuyện cổ, hát dân ca... của riêng cộng đồng mình không còn nhiều. Các thầy cúng, thầy mo với những bài ca nghi lễ, cúng tế những nghi thức đặc thù của cộng đồng cũng đang dần vắng bóng. Một già làng người Pupéo chia sẻ: “Chúng tôi là người Pu Péo, nhưng chẳng có mấy người biết viết và nói tiếng Pu Péo, đại đa số đều dùng tiếng Mông để giao tiếp. Có dùng tiếng Pu Péo chăng cũng chỉ trong dịp lễ Tết, cúng bái” (2).
Sau cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhiều vấn đề về cơ cấu tổ chức đời sống xã hội tại nhiều vùng của đất nước đã có sự thay đổi từ trong gốc rễ. Cộng đồng Pu Péo không ở ngoài các sự kiện trọng đại của đất nước và cũng không tránh khỏi bị tác động mạnh, thậm chí còn chịu ảnh hưởng một cách đặc biệt vì thuộc vào số những cộng đồng có số dân ít nhất.
Trước hết, dù đời sống còn mang nặng dấu tích truyền thống, nhưng về căn bản đã được thay đổi do những nhận thức mới. Hẳn nhiên là kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp, kỹ thuật chăn nuôi, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự chuyển đổi phương thức sống trong một bộ phận đáng kể dân cư đã làm thay đổi diện mạo đời sống người Pu Péo cũng như nhiều tộc người khác trong vùng. Đó còn là chưa kể đến ý thức chính trị, ý thức xã hội mới thật sự đã đem lại cho con người những vũ khí tinh thần mới. Con người trở nên có trí tuệ hơn, tự do hơn trong suy nghĩ và hành động, mặc dù những định chế truyền thống hàng trăm năm không dễ gì thay đổi trong một sớm một chiều.
Chính vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi một người Pu Péo có điều kiện kinh tế khá giả chọn ngôi nhà xây bằng gạch chắc chắn, tiện lợi chứ không chọn ngôi nhà đất dù sao cũng còn nhiều bất tiện. Cũng với tâm thế ấy, họ sẽ đi đến những bộ trang phục hiện đại và hợp lý hơn trong những điều kiện, hoàn cảnh mới.
Tuy nhiên, có một điều tưởng như là nghịch lý thì lại hoàn toàn hợp lý. Đó là khi đời sống càng phát triển thì nhu cầu tìm về truyền thống và gắn bó với truyền thống càng mạnh mẽ. Bởi vì, khi con người cảm thấy tương đối đầy đủ và hạnh phúc thì dường như người ta rất cần tìm hiểu xem bằng cách nào họ và những người đồng loại đã tạo dựng được thế giới này. Một lần nữa chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi gần đây, năm 2018, Lễ ra đồng của người Pu Péo được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia nhằm tiếp tục bảo tồn, phát huy và trao truyền cho các thế hệ mai sau thêm trân trọng và tự hào về giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng mình.
Chúng ta cũng sẽ thấy dễ hiểu khi những người dân Pu Péo sau nhiều năm được chuyển cư từ xã Phố Bảng về xã Yên Cường năm nào cũng cử người về Phố Bảng (khu vực Phố Là cũ) tham gia cúng thần rừng. Dù trải qua biến động của lịch sử và không gian văn hóa, đồng bào Pu Péo luôn có nguyện vọng được nghe những chuyện cổ, được hát những bài hát của cha ông. Sau nhiều biến thiên, họ đã không còn có người nhớ được các bài ca xưa và đang khẩn thiết mong được có người truyền dạy lại cho họ. Chính vì thế tháng 12/2025, Trung tâm Dữ liệu Di sản văn hóa thuộc Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã phối hợp với Lãnh đạo Đảng ủy, UBND xã Yên Cường, Phòng Văn hóa – Xã hội xã Yên Cường, cùng với Ban công tác Mặt trận thôn Tiên Xuân, cộng đồng dân tộc Pu Péo thôn Tiên Xuân tổ chức chương trình “Lớp tập huấn, truyền dạy Nghi lễ nông nghiệp, Nghệ thuật trình diễn dân gian của dân tộc Pu Péo, xã Yên Cường, tỉnh Tuyên Quang, năm 2025”. Có thể tin rằng trong một hoàn cảnh, điều kiện nào đó thì tiếng trống đồng nghi lễ cổ xưa sẽ không dễ dàng tính được bằng giá trị của những đồng Đôla mà những kẻ buôn bán cổ vật trong nước và quốc tế vẫn ráo riết săn tìm.
Nhân đây cần nói thêm rằng người Pu Péo cũng được biết đến như là một trong những tộc người cho đến gần đây vẫn còn sở hữu và sử dụng trống đồng cổ. Vài chục năm trước đây, trống đồng cổ vẫn còn hiện diện rộng khắp trên các bản làng vùng cao phía bắc của tỉnh Tuyên Quang (khu vực thuộc tỉnh Hà Giang cũ). Nơi đây còn một số tộc người sử dụng trống đồng cổ như một linh vật đặc biệt quan trọng đối với cộng đồng mình. Họ gìn giữ và bảo vệ như những báu vật thiêng liêng nhất vào mỗi dịp trọng đại của đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, do những biến động của đời sống và do nạn buôn bán cổ vật mà hiện nay trống đồng cổ ở vùng cao phía bắc của tỉnh Tuyên Quang hầu như không còn nữa.
Có thể nói, việc tổ chức lại thôn xóm, làng bản theo qui hoạch ở địa phương chắc chắn sẽ có tác động đến cơ cấu tổ chức làng bản cổ truyền của người Pu Péo vốn không phải là một kết cấu quá chặt chẽ. Việc tổ chức hôn lễ và tang lễ theo đời sống mới, theo hướng giảm thiểu những cổ tục quá phiền hà chắc chắn cũng sẽ là một tác nhân đáng kể thay đổi những nề nếp cũ. Việc đón đứa trẻ ở nhà hộ sinh với sự giúp đỡ của nhân viên y tế chắc chắn sẽ tốt hơn là để ở nhà cho mẹ chồng đỡ đẻ. Khi có người ốm mà lại có thuốc chữa bệnh thì những bài cúng tế thần linh cũng sẽ mất dần vai trò của nó. Qua khảo sát tại các địa bàn cho thấy tất cả những điều này đang là một quá trình không thể đảo ngược. Có những điều phải thay đổi không phải là không kéo theo những mất mát đáng tiếc. Ví như việc thiếu vắng các thầy cúng sẽ là một tổn thất to lớn đối với từng cộng đồng nói riêng và đối với di sản truyền thống nói chung. Bởi vì chính các thầy cúng lại là những người mang trong trí nhớ nhiều vốn văn hóa truyền thống hết sức đặc sắc...
Có ý kiến cho rằng một cuộc giao lưu đồng bào thiểu số, nhưng nhiều già làng ăn mặc comple cà-vạt, nữ mặc quần tây, váy ngắn như người Kinh thì rõ ràng là đã mất bản sắc. Tuy nhiên, bản sắc không phải là việc cố tình níu giữ mô hình cuộc sống cũ đã không còn phù hợp nữa. Bản sắc phải là cái gì ăn sâu vào tâm hồn, tính cách và trở thành sức mạnh vươn lên của cả cộng đồng. Biết lựa chọn và ứng xử phù hợp mới là khả năng giúp cho nhiều cộng đồng trở nên trường tồn trong lịch sử. Trong điều kiện cuộc sống mới với các sinh hoạt ăn, mặc, ở, lao động, học tập, công tác... mang một mẫu số chung lớn hơn và ở đó sự phát triển của con người cá nhân là một mục tiêu hướng tới của toàn xã hội thì những chuẩn mực cũ nếu không thích hợp sẽ khó lòng tồn tại lâu dài.
Trong điều kiện hiện nay, việc khôi phục các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ mang tính dân gian như nó vốn có từ khởi nguồn sẽ là điều không tưởng. Bởi những nhu cầu tinh thần căn bản không những đã có sự thay đổi mà những quan hệ mới đã được xác lập theo hướng tiến tới hòa nhập vào dòng chảy của văn hóa hiện đại. Là cộng đồng tộc người có dân số rất ít (dưới 1.000 người), đồng bào Pu Péo cư trú chủ yếu ở nơi điều kiện cuộc sống còn khó khăn, giao thông đi lại không thuận tiện, tỷ lệ hộ thuộc diện đói nghèo tương đối cao, nên khả năng tự bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào rất hạn chế, tiếng nói, trang phục… cũng bị mai một, thậm chí có nguy cơ bị mất hẳn.
Mô hình cư trú, làng bản truyền thống cũng không còn nguyên vẹn. Trong quá trình tiếp xúc, giao lưu với các tộc người khác, những đặc trưng văn hóa của người Pu Péo có sự pha trộn, giao thoa, mai một và có xu hướng bị đồng hóa. Đây thực chất là quá trình đồng hóa tự nhiên mà các tộc người đều tìm thấy tiếng nói chung trong sự tiến bộ xã hội. Chính vì thế, Lênin từng nói: “Hoan nghênh mọi sự đồng hóa dân tộc, trừ sự đồng hóa bằng bạo lực hoặc dựa trên những đặc quyền”(3).
Chú thích:
(1) Tổng cục Thống kê, Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc ít người năm 2019.
(2)https://baophapluat.vn/giu-gin-ban-sac-dan-toc-de-chan-hung-van-hoa-post423729.html?utm
(3) V.I.Lênin, Ý thức phê phán về vấn đề dân tộc. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tr.31.






























