Vẫn còn cơ hội giảm thực chất lãi suất cho vay
Tại cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng vào ngày 13-8 vừa qua, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã chỉ đạo: “Các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất, giảm thực chất lãi suất cho vay” qua đó chia sẻ với người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, dữ liệu 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy, biên lãi thuần của nhiều tổ chức tín dụng đang bị thu hẹp đáng kể do chi phí huy động vốn tăng.
Đây là áp lực trong việc thực hiện chỉ đạo giảm lãi suất cho vay của Thủ tướng. Nhưng với trách nhiệm cao và tinh thần quyết liệt của toàn hệ thống, kỳ vọng lãi suất cho vay tại nhiều tổ chức tín dụng sẽ được cắt giảm từ 0,5-1% trong thời gian tới.

Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) chi nhánh Hà Nội. Ảnh: Phạm Hùng
Giảm thực chất lãi suất cho vay
Đó là chỉ đạo mạnh mẽ, dứt khoát của Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo các tổ chức tín dụng cắt giảm lãi suất cho vay. Tại sao Thủ tướng Chính phủ lại nói “giảm thực chất lãi suất cho vay” mà không nói một cách thông thường là “giảm lãi suất cho vay”. Thêm từ “thực chất” ý nghĩa là gì? Thực tế nhiều năm qua, khi mặt bằng lãi suất có biểu hiện “nóng” lên, tác động tăng chi phí đáng kể, Thủ tướng Chính phủ đều kịp thời chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.
Sau mỗi lần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng ổn định chi phí đầu vào để giảm lãi suất cho vay. Nhiều tổ chức tín dụng, đặc biệt nhóm ngân hàng Big 4, đã đưa ra cam kết thông qua các chương trình với các gói tín dụng ưu đãi, lãi suất giảm từ 0,5%-2%, quy mô hàng nghìn và chục nghìn tỷ đồng để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy, kết quả giải ngân của phần lớn các gói tín dụng ưu đãi không được công khai.
Lý do thứ nhất là các gói tín dụng ưu đãi lãi suất do từng ngân hàng thương mại tự nguyện cam kết, không ràng buộc nhiệm vụ hoàn thành. Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước không đưa ra chỉ tiêu giải ngân, cũng đồng nghĩa không bắt buộc nghĩa vụ báo cáo. Thứ ba, các gói tín dụng chỉ ưu đãi về lãi suất chứ không phải ưu đãi điều kiện tín dụng, thậm chí điều kiện tín dụng lại khắt khe hơn, nên kết quả giải ngân thấp. Thứ tư, các gói tín dụng ưu đãi lãi suất đối với khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) đều rơi vào tình trạng chung là nhiều doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện tài sản thế chấp và điều kiện năng lực tài chính, nên kết quả giải ngân thấp.
Không chỉ các gói tín dụng ưu đãi do các ngân hàng tự nguyện cam kết, thời gian qua một số gói tín dụng ưu đãi do Chính phủ chỉ định cũng có kết quả giải ngân thấp. Chẳng hạn, gói tín dụng hỗ trợ nhà ở xã hội 120.000 tỷ đồng nhưng chỉ giải ngân 13.665 tỷ đồng. Hay gói hỗ trợ lãi suất 2% từ nguồn ngân sách nhà nước có quy mô 40.000 tỷ đồng hỗ trợ các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 (giai đoạn 2022-2023) chỉ giải ngân khoảng 3,05%, do doanh nghiệp sợ rủi ro bởi quy định hậu kiểm nên không muốn vay.
Nhìn chung các gói tín dụng ưu đãi lãi suất mà các ngân hàng tung ra trong thời gian qua còn khoảng cách lớn với doanh nghiệp và người dân đang khát vốn tín dụng. Thực tế, cho dù các ngân hàng thương mại nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, nhưng công bằng mà nói, chưa phải là giảm thực chất lãi suất cho vay. Chỉ khi nào các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay một cách đồng loạt, điều kiện tín dụng không thay đổi so với hiện tại, thì mới có thể gọi là giảm thực chất lãi suất cho vay. Tính đồng loạt tại đây có thể hiểu, ít nhất có từ 60%-70% tổng dư nợ tín dụng cùng thời điểm của ngân hàng được hưởng “quyền lợi” giảm lãi suất.
Cơ sở giảm lãi suất cần nhìn ở góc độ thực tế hơn
Về lý thuyết, biên lãi thuần (chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất tiền gửi bình quân - NIM) là cơ sở để xác định lãi suất cho vay. Đúng vậy, nhưng đó chỉ là cơ sở lý thuyết. Cần đặt vấn đề thực tế hơn, trong quá trình hoạt động tín dụng (huy động tiền gửi và cho vay), các ngân hàng được tận hưởng thu nhập dịch vụ cộng sinh. Đó là các dịch vụ tạm gọi là “ăn theo” một hợp đồng tín dụng, như dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ và ngân hàng số, dịch vụ cam kết bảo lãnh, dịch vụ ủy thác… Như vậy, thu nhập từ hoạt động cho vay của ngân hàng không đơn thuần chỉ là thu nhập lãi thuần thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, mà cần tính bao gồm phần lãi thuần từ hoạt động dịch vụ, cũng thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Theo số liệu báo cáo tài chính hợp nhất quý II-2026 của 28 ngân hàng niêm yết (sàn HoSE, HNX) và đăng ký giao dịch (sàn UPCoM), tính thêm với Ngân hàng Agribank, có 14/29 ngân hàng đạt lãi thuần từ hoạt động dịch vụ trên 1 nghìn tỷ đồng. Trong đó, nhiều ngân hàng đạt trên 3 nghìn tỷ đồng, như Ngân hàng Techcombank 3.362 tỷ đồng, Ngân hàng VPBank 3.490 tỷ đồng, Ngân hàng STB 3.202 tỷ đồng. Thu nhập lãi thuần từ hoạt động dịch vụ tại nhiều ngân hàng đã đóng góp lớn trong tổng thu nhập thuần hoạt động, được coi là trụ phụ bên trụ chính là thu nhập lãi thuần. Chẳng hạn, tỷ lệ thu nhập lãi thuần từ hoạt động dịch vụ trên thu nhập lãi thuần của STB là 52,8%, LPB là 49,2%, SHB là 37,8%, TCB là 34%, TPB là 31,1%,…
Điều này khẳng định, bên cạnh thu nhập lãi thuần, nhiều ngân hàng đã có thêm nguồn lực tài chính vững chắc để cắt giảm lãi suất cho vay, đó là nguồn thu nhập lãi thuần từ hoạt động dịch vụ. Điều này hàm ý rằng, dù biên lãi thuần đang có xu hướng chững lại hoặc tăng nhẹ từ quý II-2026, nhưng tổng biên sinh lời của ngân hàng trên một khách hàng vẫn cao. Khi giảm lãi suất cho vay đối với một khách hàng, trong điều kiện chưa giảm được lãi suất tiền gửi, biên lãi thuần có giảm đi một ít, nhưng ngân hàng đã thu về một lượng phí dịch vụ rất lớn từ chính khách hàng đó để bù đắp.
Cần sự sòng phẳng trong nghĩa vụ chia sẻ
Quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng là mối quan hệ có tính cộng sinh. Điều này dường như đã trở thành lý thuyết trong kiến thức quản trị ngân hàng thương mại. Bản chất của quan hệ là, quyền và nghĩa vụ của hai bên đều được chia sẻ. Thực tế khi ngân hàng có tỷ lệ thu nhập dịch vụ trên dư nợ cao, chứng tỏ ngân hàng đã khai thác tối đa hệ sinh thái liên quan đến khách hàng vay. Vì vậy, khi khách hàng khó khăn (chi phí đầu vào của doanh nghiệp và người dân quá cao), các ngân hàng phải có nghĩa vụ và năng lực tài chính, trích một phần lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ bù đắp cho việc giảm lãi suất cho vay. Chính đó mới là điều chứng minh cho quan hệ cộng sinh.
Nhìn nhận thực tế như vậy cho thấy, khi biên lãi thuần chật hẹp hoặc đang bị đe dọa, có nguy cơ giảm như hiện nay, nhưng nếu các ngân hàng có lãi thuần từ hoạt động dịch vụ lớn thì vẫn đủ dư địa giảm lãi suất cho vay một cách đồng loạt. Việc ngân hàng giảm lãi suất cho vay hỗ trợ người vay, lúc này không chỉ là hành động mang tính tuân thủ, mà cần coi đó là đạo đức kinh doanh. Bởi vì, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ mà ngân hàng nhận được, bản chất là chi phí người đi vay phải trả thêm ngoài tiền lãi. Giờ đây, khi người vay khó khăn, ngân hàng san sẻ một phần phí dịch vụ mà người vay đã chi trả, thông qua giảm bớt lãi suất cho vay.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các tổ chức tín dụng “tiếp tục tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất, giảm thực chất lãi suất cho vay” rất kịp thời. Tính đến ngày 24-8-2026 đã có 12 ngân hàng thương mại đăng ký các gói tín dụng ưu đãi lãi suất, tổng giá trị các gói tín dụng lên đến 408.000 tỷ đồng. Trong đó, các gói tín dụng ưu đãi lãi suất nhóm ngân hàng thương mại Big 4 có tổng giá trị 220.000 tỷ đồng. Việc nhiều ngân hàng thương mại nhanh chóng vào cuộc cho thấy sự đồng thuận của hệ thống ngân hàng trong việc chia sẻ với doanh nghiệp và người dân thông qua giảm một phần lãi suất cho vay.
Tuy nhiên, các gói tín dụng ưu đãi lãi suất đã công bố cho dù quy mô giá trị lớn, có thể còn nối tiếp các gói tín dụng ưu đãi lãi suất được công bố từ một số ngân hàng thương mại tư nhân khác, nhưng như phân tích ở phần trên, vấn đề cốt lõi là nó sẽ được giải ngân như thế nào và đạt tỷ lệ bao nhiêu phần trăm? Câu trả lời này có lẽ chỉ dành riêng cho từng ngân hàng thương mại. Tỷ lệ giải ngân các gói tín dụng ưu đãi lãi suất chính là thước đo cho việc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc “giảm thực chất lãi suất cho vay”.
