Ung thư đại trực tràng thường di căn đến đâu?
Ung thư đại trực tràng là tình trạng các tế bào ác tính hình thành trong mô của đại tràng hoặc trực tràng. Ở giai đoạn tiến triển, tế bào ung thư xâm lấn các mô lân cận hoặc di chuyển đến những cơ quan ở xa thông qua hệ thống mạch máu và mạch bạch huyết.
Khi tế bào ung thư rời khỏi vị trí ban đầu và hình thành khối u tại cơ quan khác, tình trạng này được gọi là di căn. Ung thư đại trực tràng di căn thường được xếp vào giai đoạn IV và việc điều trị trở nên phức tạp hơn.
Ung thư đại trực tràng thường di căn đến đâu?
Ung thư đại trực tràng có thể di căn đến nhiều cơ quan khác nhau. Gan và phổi là những vị trí thường gặp, ngoài ra có thể di căn đến phúc mạc, hạch bạch huyết xa, xương, não và các cơ quan khác.
Ung thư đại trực tràng có thể đã di căn ngay tại thời điểm người bệnh được chẩn đoán. Một số trường hợp khác được phát hiện khi bệnh còn khu trú nhưng sau quá trình điều trị, bệnh tái phát hoặc tiến triển và xuất hiện tổn thương di căn.
Di căn gan: Gan là vị trí di căn thường gặp nhất của ung thư đại trực tràng. Nguyên nhân một phần liên quan đến đặc điểm hệ thống tuần hoàn, khi máu từ đường tiêu hóa đi qua hệ tĩnh mạch cửa trước khi về tim. Người bệnh có thể không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu. Khi tổn thương gan tiến triển, có thể xuất hiện mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, đau hoặc tức vùng bụng, vàng da, vàng mắt, bụng to hoặc phù.
Di căn phổi: Tế bào ung thư có thể di chuyển đến phổi qua đường máu hoặc hệ thống bạch huyết. Một số người bệnh không có triệu chứng rõ ràng và chỉ phát hiện tổn thương khi chụp chiếu. Khi có biểu hiện, người bệnh có thể ho kéo dài, khó thở, hụt hơi, đau hoặc tức ngực.

Nội soi đại trực tràng giúp phát hiện sớm và xử lý các polyp có nguy cơ ung thư hoá hạn chế gia tăng tỷ lệ ung thư đại trực tràng. Ảnh LT
Di căn hạch bạch huyết: Ung thư đại trực tràng có thể lan đến các hạch bạch huyết trong ổ bụng và các vùng khác. Tổn thương hạch thường được đánh giá trong quá trình chẩn đoán và xếp giai đoạn bệnh. Người bệnh có thể xuất hiện đau hoặc cảm giác khó chịu vùng bụng, đầy hơi, chán ăn tùy vị trí và mức độ tổn thương.
Di căn phúc mạc: Phúc mạc là lớp màng mỏng lót mặt trong thành bụng và bao phủ nhiều cơ quan trong ổ bụng. Khi ung thư lan đến phúc mạc, người bệnh có thể đau bụng, đầy bụng, nhanh no, buồn nôn, thay đổi cân nặng hoặc có dịch trong ổ bụng.
Di căn xương: Di căn xương ít gặp hơn so với di căn gan và phổi. Khi xảy ra, người bệnh có thể đau xương, hạn chế vận động và tăng nguy cơ gãy xương. Trong trường hợp tế bào ung thư làm tổn thương xương nghiêm trọng, canxi có thể giải phóng vào máu gây tăng calci máu, với các biểu hiện như khát nhiều, đi tiểu nhiều, mệt mỏi, buồn nôn hoặc chán ăn.
Di căn não: Di căn não từ ung thư đại trực tràng tương đối hiếm. Người bệnh có thể xuất hiện đau đầu, buồn nôn, rối loạn nhận thức, thay đổi hành vi, yếu liệt, rối loạn thị giác hoặc co giật tùy vị trí tổn thương. Đây thường là biểu hiện của bệnh ở giai đoạn tiến triển và cần được đánh giá chuyên khoa.
Chẩn đoán ung thư đại trực tràng di căn bằng cách nào?
Để chẩn đoán và xác định mức độ lan rộng của bệnh, bác sĩ sẽ kết hợp nhiều phương pháp trong đó bác sĩ khai thác các triệu chứng, tiền sử bệnh, yếu tố nguy cơ và tiến hành khám để định hướng chẩn đoán, đồng thời chỉ định các xét nghiệm cần thiết.
Nội soi đại trực tràng: Nội soi toàn bộ đại tràng và trực tràng giúp quan sát trực tiếp niêm mạc, phát hiện tổn thương nghi ngờ và lấy mẫu bệnh phẩm khi cần.
Sinh thiết và xét nghiệm mô bệnh học: Đây là phương pháp quan trọng để xác định bản chất ác tính của tổn thương. Mẫu bệnh phẩm có thể được lấy từ khối u tại đại trực tràng hoặc một tổn thương nghi ngờ di căn, tùy từng trường hợp.
Chẩn đoán hình ảnh: Chụp cắt lớp vi tính (CT), cộng hưởng từ (MRI), PET/CT hoặc các phương pháp phù hợp khác giúp đánh giá khối u nguyên phát, hạch và các tổn thương tại cơ quan khác, từ đó xác định mức độ lan rộng và xếp giai đoạn bệnh. Xạ hình xương có thể được chỉ định khi nghi ngờ tổn thương xương.
Xét nghiệm máu: Các xét nghiệm có thể giúp đánh giá tình trạng thiếu máu, chức năng gan, thận và tình trạng sức khỏe tổng thể. Một số chất chỉ điểm u như CEA cũng có thể được sử dụng trong đánh giá và theo dõi bệnh ở những trường hợp phù hợp.
Xét nghiệm phân tử, đột biến gen: Đối với ung thư đại trực tràng di căn, xét nghiệm đặc điểm phân tử của khối u có vai trò quan trọng trong lựa chọn phương pháp điều trị. Bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm các gen RAS (KRAS, NRAS), BRAF, tình trạng HER2 và tình trạng mất ổn định vi vệ tinh (MSI) hoặc hệ thống sửa chữa bắt cặp sai DNA (MMR). Kết quả giúp xác định những đặc điểm phân tử có thể ảnh hưởng đến lựa chọn thuốc điều trị đích hoặc liệu pháp miễn dịch.
Tóm lại: ung thư đại trực tràng di căn là bệnh lý nghiêm trọng nhưng không đồng nghĩa với việc không còn cơ hội điều trị. Hiện nay, việc lựa chọn phương pháp điều trị ngày càng được cá thể hóa dựa trên vị trí và số lượng tổn thương di căn, tình trạng sức khỏe của người bệnh, đặc điểm mô bệnh học và các dấu ấn phân tử của khối u. Phát hiện bệnh sớm, chẩn đoán chính xác và điều trị tại cơ sở chuyên khoa có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát bệnh, kéo dài thời gian sống và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Dấu hiệu cảnh báo ung thư đại trực tràng
Người trẻ thường có tâm lý chủ quan, dễ nhầm lẫn các triệu chứng ung thư với bệnh trĩ hoặc rối loạn tiêu hóa thông thường.'
- Đau bụng kéo dài: Đau râm ran, âm ỉ kéo dài, chướng bụng.
- Rối loạn tiêu hóa: kéo dài nhiều tuần, tái đi tái lại, không rõ nguyên nhân
- Đi phân có máu, xuất hiện dịch nhầy
- Cảm giác buồn đi ngoài thường xuyên, đi ngoài không hết phân.
- Tiêu chảy, táo bón xen kẽ hoặc kéo dài, đi ngoài nhiều lần trong ngày
- Hình dáng phân bất thường: Phân mỏng, dẹt, hình bút chì hoặc méo mó
- Sụt cân đột ngột khoảng trên 2 - 4kg/tháng mặc dù không thay đổi chế độ ăn uống, không tập luyện nghiêm ngặt.
- Cơ thể suy nhược: mệt mỏi, mất sức, dễ hoa mắt, chóng mặt và giảm tập trung mà không rõ nguyên do vì sao.

