Ứng dụng AI, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang hỗ trợ tích cực ngành y tế thông qua các ứng dụng số. Tuy nhiên, việc ứng dụng AI trong các cơ sở y tế, nhất là tuyến y tế cơ sở hiện đang gặp không ít khó khăn, cần có các giải pháp đồng bộ, mang lại lợi ích nhiều hơn nữa cho người bệnh.

Ứng dụng AI được các bác sĩ khoa Chẩn đoán hình ảnh (Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh) triển khai hiệu quả giúp hỗ trợ điều trị kịp thời cho các trường hợp người bệnh bị đột quỵ (Ảnh: HẠ LONG)
Sau hơn 20 năm chịu đựng đau nhức vì thoái hóa nặng cả hai khớp gối, bà Nguyễn Thị P (68 tuổi) ở Thành phố Hồ Chí Minh vừa được thay khớp gối tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh, cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh bằng robot trí tuệ nhân tạo (AI) Cuvis-Joint. Dù mắc nhiều bệnh nền, hai ngày sau phẫu thuật, bà có thể tập vận động và cho biết ít đau hơn so với lần thay khớp trước thực hiện bằng phương pháp thông thường.
Theo Thầy thuốc Ưu tú, Tiến sĩ, bác sĩ CKII Lê Văn Tuấn, Giám đốc Trung tâm chấn thương chỉnh hình bệnh viện, Cuvis-Joint là robot AI thế hệ mới chuyên phẫu thuật thay khớp gối và khớp háng, vừa được cấp phép triển khai tại Việt Nam. Hệ thống hỗ trợ bác sĩ lập kế hoạch mổ, xác định kích thước khớp, vị trí đặt khớp, cân bằng phần mềm và thực hiện các lát cắt xương theo kế hoạch đã được phê duyệt với độ chính xác đến từng milimet. Bên cạnh đó, công nghệ AI trong y tế cũng góp phần giúp các cán bộ, bác sĩ bệnh viện giảm thủ tục hành chính, tối ưu hóa các phác đồ điều trị; giúp người bệnh được chăm sóc chu đáo, tiện lợi hơn… Tuy nhiên, robot không thể thay thế bác sĩ, chỉ hỗ trợ xử lý những thao tác đòi hỏi độ chính xác cao, giúp phẫu thuật ít xâm lấn hơn, giảm nguy cơ biến chứng và tạo điều kiện để người bệnh phục hồi sớm.
Theo Thạc sĩ, bác sĩ CKII Nguyễn Phương Trung, Giám đốc Bệnh viện đa khoa Phúc Thọ (Hà Nội), việc ứng dụng AI trong khám, chữa bệnh đang đối mặt nhiều thách thức. Đầu tiên là sự chuẩn hóa và liên thông dữ liệu y tế chưa đồng nhất, dữ liệu vẫn bị phân mảnh, thiếu đồng bộ và bảo mật, nhất là thông tin về sức khỏe của người bệnh. Tiếp theo là sự thiếu hụt về nhân lực y tế có kỹ năng sử dụng công nghệ; những bất cập về hạ tầng, thiết bị y tế; hành lang pháp lý; quy tắc đạo đức trong thử nghiệm. Do đó, việc ứng dụng các sản phẩm AI trong lĩnh vực y tế chưa thật sự cụ thể hóa.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam nằm trong nhóm ba nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo. Trong Quyết định số 21/2026/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ, AI đứng đầu trong 10 nhóm công nghệ chiến lược. Ngoài ra, Luật Trí tuệ nhân tạo, Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân cũng là những nền tảng pháp lý quan trọng góp phần phát triển y tế số, nhất là công nghệ AI. Qua đó cho thấy, sự phát triển của AI đã và đang góp phần tăng cường tính minh bạch, hiệu quả trong việc cung cấp, sử dụng các dịch vụ y tế tại Việt Nam.
Bác sĩ CKII Bùi Mạnh Hùng, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Quảng Ninh cho biết, công nghệ RAPID AI phân tích hình ảnh CT/MRI cho bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não tại Bệnh viện đa khoa tỉnh từ năm 2021, có khả năng phân tích hình ảnh CT hoặc MRI chỉ trong 30 giây đến 2 phút, xác định chính xác vị trí tổn thương; đặc biệt RAPID AI không những định tính được tổn thương mà còn định lượng được vùng tổn thương nhu mô não và vùng có nguy cơ bị tổn thương, vì vậy công nghệ này đã mở rộng “cửa sổ can thiệp hay thời gian vàng” cho bệnh nhân đột quỵ lên tới 24 giờ thay vì 6 giờ như trước đây, giúp nhiều người bệnh nhập viện muộn có cơ hội cứu sống.
Trong năm 2025 và 2026, Sở Y tế tỉnh Quảng Ninh đã chủ động triển khai thí điểm ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ đọc phim, đánh giá tổn thương trên phim chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, Xquang, từ đó giúp giảm thiểu được các bỏ sót tổn thương và thời gian chờ đợi kết quả chụp của người bệnh. Ngoài ra, các cơ sở y tế trong tỉnh cũng dần thử nghiệm ứng dụng AI trong dự báo dịch bệnh, khám, chữa bệnh từ xa,… đã mang lại những kết quả bước đầu khả quan.
Để bảo đảm việc ứng dụng công nghệ AI trong lĩnh vực y tế đạt hiệu quả tích cực, Bác sĩ CKII Bùi Mạnh Hùng cho rằng, cần tập trung xây dựng ba “trụ cột” chiến lược, gồm: Bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về ứng dụng công nghệ AI; chuẩn hóa và liên thông dữ liệu y tế một cách đồng bộ và hiệu quả; xây dựng các quy định, khung pháp lý và quy tắc đạo đức khi sử dụng AI.
Để cụ thể hóa những “trụ cột” nêu trên, ngành y tế cần sớm hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật khi thử nghiệm, ứng dụng AI vào các hoạt động của ngành, đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn đã và đang đặt ra. Phát triển các hạ tầng số và cơ sở dữ liệu y tế lớn nhằm tạo nguồn dữ liệu thông tin đúng-đủ-sạch-sống giúp công nghệ AI khai thác, sử dụng hiệu quả. Xây dựng chiến lược nghiên cứu, định hướng phát triển các lĩnh vực ưu tiên khi ứng dụng AI. Ngoài ra, cán bộ, bác sĩ và nhân viên các cơ sở y tế cần chủ động học tập, không ngừng nâng cao kiến thức chuyên môn khi kết hợp AI; nâng cao trách nhiệm, đạo đức trong việc bảo vệ dữ liệu người bệnh; đồng thời, bảo đảm trách nhiệm chuyên môn cao nhất là chữa bệnh, cứu người.


