Tuyên ngôn Độc lập - Văn kiện lịch sử mang tầm vóc thời đại
Những ngày thu tháng Tám cả dân tộc Việt Nam lại bồi hồi nhớ về thời khắc lịch sử thiêng liêng. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc - kỷ nguyên của độc lập, tự do và Chủ nghĩa xã hội.

Đông đảo nhân dân tập trung tại Quảng trường Ba Đình nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945. (Ảnh tư liệu TTXVN)
Cách mạng Tháng Tám thành công, sáng 26/8/1945, tại nhàsố 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 30/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời một số người đến góp ý cho bản Tuyên ngôn độc lập do Người soạn thảo. Ngày 31/8/1945, Người bổ sung thêm cho dự thảo Tuyên ngôn độc lập và ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Xét về góc độ lịch sử, bên cạnh sứ mệnh khai sinh, đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và Chủ nghĩa xã hội, bản Tuyên ngôn độc lập là bản Tuyên ngôn về nhân quyền, về cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng thiêng liêng giữa các dân tộc và mỗi con người của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ở góc độ văn học, bản Tuyên ngôn là áng văn chính luận đầy mẫu mực. 49 câu, với 1.010 chữ, bản Tuyên ngôn có ba phần theo bố cục chặt chẽ của văn chính luận: Cơ sở pháp lý - cơ sở thực tế - khẳng định. Phần đầu bản Tuyên ngôn nêu lên những chân lý về nhân quyền và dân quyền với trích dẫn lời hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ và “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp. Lời lẽ của hai bản tuyên ngôn trên tự thân đã nêu lên những chân lý không ai có thể phủ nhận tính đúng đắn của chúng.
Điều này chứng tỏ khi trích dẫn những chân lý đó Bác đã cân nhắc rất kỹ. Và, Người vận dụng một cách đầy sáng tạo: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Phần kế tiếp, trong một đoạn ngắn hai mươi mốt câu với sự liệt kê ngắn gọn và đầy đủ những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra trên đất nước ta, Bác đã cho cả thế giới biết chiêu bài “khai hóa, bảo hộ” với những việc làm độc ác của thực dân Pháp. Và trước những hành động tàn nhẫn của hực dân Pháp chúng ta buộc phải “rũ bùn đứng dậy”, làm cuộc cách mạng giải phóng chính mình...
Kết thúc phần cơ sở thực tiễn, Bác đã nhấn mạnh: “Sự thật là từ mùa Thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật...” và “Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật…”. Sau khi đã làm rõ cơ sở pháp lý và nêu ra cơ sở thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng những lời lẽ đanh thép để tuyên bố nền độc lập của dân tộc, đồng thời khẳng định "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy".

Bản Tuyên ngôn Độc lập, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945, được Việt Nam Thông tấn xã phát đi toàn thế giới bằng ba thứ tiếng Việt, Anh, Pháp. (Ảnh tư liệu TTXVN)
Bản Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử mang tầm vóc thời đại, một kiệt tác chính luận kết tinh những giá trị sâu sắc về tư tưởng, pháp lý, chính trị, đạo lý và nhân văn. Nó không chỉ là nền tảng pháp lý vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mà còn là lời hiệu triệu, nguồn cổ vũ mãnh liệt cho các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới đứng lên đấu tranh giành quyền sống, quyền tự do cho dân tộc mình.
Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là đỉnh cao của dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nó là sự tiếp nối và phát triển lên một tầm cao mới hào khí của “Nam quốc sơn hà” thời Lý Thường Kiệt - bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên khẳng định chủ quyền lãnh thổ và khí phách của “Bình Ngô đại cáo” thời Nguyễn Trãi - bản cáo trạng tội ác giặc Minh và lời tuyên bố hùng hồn về nền văn hiến và nền độc lập Đại Việt.
Trong bối cảnh đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, với khát vọng vươn mình trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, những giá trị bất hủ của Tuyên ngôn Độc lập tiếp tục là ngọn đuốc soi đường, khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự cường, khát vọng cống hiến của dân tộc Việt Nam.
Thu về, mỗi người dân Việt Nam lại bồi hồi khi nghe lại thời khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh cất giọng ấm áp đọc Tuyên ngôn độc lập. Năm tháng vẫn qua đi, nhưng tinh thần của Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 mãi trường tồn cùng dân tộc
