Từng bước hoàn thiện cơ chế phát triển khu đô thị lấn biển
Cơ chế, chính sách đối với khu đô thị lấn biển đang được nghiên cứu, hoàn thiện theo hướng phù hợp với thực tiễn, đồng bộ với các quy định pháp luật hiện hành và đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời gian tới...

Quốc hội nghe báo cáo về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển và ý kiến thẩm tra về nội dung này. Ảnh: QH
Tại chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, ngày 21/8, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn báo cáo tóm tắt về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị; Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu báo cáo tóm tắt ý kiến thẩm tra đối với nội dung này.
CÁC ĐẶC THÙ CẦN ĐƯỢC TÍNH ĐẾN
Trình bày Tờ trình tóm tắt cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nêu rõ: Việc xây dựng cơ chế, chính sách nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; Nghị quyết số 21-NQ/TW về quản lý, khai thác hiệu quả không gian lấn biển như một nguồn lực phát triển mới; và Kết luận số 18-KL/TW về khơi thông, giải phóng nguồn lực cho tăng trưởng. Đồng thời, thực hiện ý kiến của Bộ Chính trị tại Văn bản số 4136-CV/VPTW ngày 3/8/2026 về rà soát cơ chế chung áp dụng cho các dự án đô thị lấn biển.
Còn thực tiễn, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết nhiều quốc gia đã lấn biển, xây dựng đảo nhân tạo để khắc phục giới hạn về quỹ đất. Các dự án này đều có quy mô đặc biệt lớn và được điều chỉnh bằng khuôn khổ pháp lý riêng, ổn định. Trong khi Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển; 21 tỉnh, thành phố có biển; nhưng quỹ đất ven biển tại các đô thị lớn ngày càng hạn hẹp. Bộ trưởng nhận định Dự án lấn biển khác cơ bản so với lấn biển thông thường, có 3 đặc thù pháp luật hiện hành chưa xử lý gồm: đất chưa hình thành khi lập quy hoạch; quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài; cần khối lượng vật liệu san lấp lớn. Vì vậy, cơ chế đề xuất chỉ điều chỉnh việc hình thành khu đô thị lấn biển cách bờ, không điều chỉnh hoạt động lấn biển nói chung.
Về quá trình xây dựng và tiếp thu ý kiến, Hồ sơ đã được Bộ Tư pháp thẩm định, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến của đại biểu Quốc hội khi thảo luận tổ về dự án Luật Phát triển đô thị; ý kiến của cơ quan, bộ, ngành trung ương và địa phương có biển. Trên cơ sở góp ý, dự thảo lược bỏ toàn bộ chính sách về: tài chính, thuế, nhà ở, xuất nhập cảnh, hải quan, miễn thị thực và quy định từ bỏ quyền khởi kiện... Dự thảo cũng không quy định khác Luật Đất đai và Luật Địa chất, Khoáng sản; không miễn, giảm thủ tục về môi trường.
Theo Bộ trưởng, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ý kiến thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, Cơ quan soạn thảo dự kiến hoàn thiện dự thảo theo hướng: Rà soát khái niệm "khu đô thị biển", bảo đảm rõ về đối tượng và phạm vi áp dụng; Không quy định cụ thể tiêu chí về tổng mức đầu tư xây dựng; Không quy định thành một chương riêng về nội dung cơ chế chính sách, mà tích hợp nội dung cần thiết vào các điều khoản phù hợp tại Chương II, bảo đảm cùng một vấn đề được điều chỉnh theo một nguyên tắc, một chế độ pháp lý thống nhất trong luật.
Với các nội dung trên, Chính phủ báo cáo Quốc hội xem xét cho phép xây dựng cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển, đồng thời xem xét thông qua cùng với dự án Luật Phát triển đô thị.
“Việc sớm ban hành cơ chế, chính sách này có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo khuôn khổ pháp lý ổn định để hình thành các cực tăng trưởng mới gắn với biển, huy động hiệu quả nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước; đồng thời bảo đảm quản lý chặt chẽ tài nguyên biển, bảo vệ môi trường, quốc phòng và an ninh”, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết.
BẢO ĐẢM ĐỒNG BỘ VỚI PHÁP LUẬT LIÊN QUAN
Báo cáo tóm tắt ý kiến thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành sự cần thiết xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự thảo Luật Phát triển đô thị, nhằm mở rộng không gian phát triển, khai thác tiềm năng kinh tế biển và huy động nguồn lực ngoài ngân sách.
Tuy nhiên, nội dung Chính phủ đề xuất thực chất là cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển, chưa hình thành đầy đủ cơ chế quản lý, vận hành đối với một loại hình đô thị mới, có yêu cầu đặc thù về quản trị đô thị. Vì vậy, Cơ quan chủ trì soạn thảo cần xác định rõ mục đích tích hợp các cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển vào dự thảo Luật. Bên cạnh đó, cũng xác định rõ có áp dụng chính sách này đối với các dự án lấn biển có quy mô, tính chất tương tự tại những địa phương khác hay không.
Ngoài ra, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhận thấy quy định về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển, nhằm thể chế hóa chủ trương, chỉ đạo của Đảng về quản lý, khai thác hiệu quả không gian lấn biển; xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh cơ bản đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan.
Song do đây là cơ chế, chính sách đặc thù nên có một số nội dung khác với quy định của luật hiện hành, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ các quy định, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về đất đai, biển và hải đảo. Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, chủ quyền, an toàn hàng hải, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển và thực hiện các cam kết quốc tế. Đặc biệt, chỉ quy định trong Luật này những nội dung thật sự đặc thù, cần thiết, không quy định lại những nội dung pháp luật chuyên ngành đã điều chỉnh, hoặc đang được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung; đồng thời, rà soát kỹ những quy định dự kiến tích hợp vào dự thảo Luật với các quy định hiện nay.
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cơ bản thống nhất với cơ chế đặc thù để triển khai dự án xây dựng khu đô thị lấn biển quy mô lớn, nhưng nghiên cứu, rà soát kỹ từng chính sách về phạm vi, đối tượng, tiêu chí dự án, nhà đầu tư chiến lược, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, điều kiện chuyển nhượng dự án, thời hạn hoạt động, các đặc thù về quy hoạch, khai thác khoáng sản san lấp, ưu đãi đối với nhà đầu tư, yêu cầu về quốc phòng, an ninh, về môi trường và cơ chế quản lý, kiểm soát.
Ngoài ra, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhận thấy các cơ chế, chính sách tập trung nhiều vào ưu đãi, hỗ trợ và thu hút đầu tư, trong khi cơ chế bảo đảm quản lý, vận hành và kiểm soát rủi ro trong toàn bộ vòng đời dự án chưa quy định đầy đủ. Do đó cần cân nhắc bổ sung những quy định này.
