Từ vạn chài đến làng biển hiện đại
VHXQ - Làng biển hay làng chài, vạn chài là cộng đồng dân cư đặc thù, hình thành và phát triển dựa trên kinh tế biển. Cấu trúc xã hội và không gian của làng biển mang những nét độc đáo, vừa tương đồng với làng quê truyền thống, vừa khác biệt do ảnh hưởng sâu sắc của yếu tố văn hóa.

Làng chài ven biển Đà Nẵng đầu thế kỷ 20. Ảnh: GABRIELLE MARTEL
Dấu tích mở cõi nơi đầu sóng
Lịch sử hình thành và phát triển làng biển ở xứ Quảng diễn ra trong tiến trình rất dài với nhiều giai đoạn. Cư dân miền biển có nguồn gốc từ Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên... vào đây theo những đợt di dân khác nhau, mà rầm rộ và đông đảo nhất là vào giữa thế kỷ 15 (1471) triều Lê Thánh Tông và sau đó là Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558).
Khai khẩn xứ Quảng là lưu dân và những binh lính trong đoàn quân Nam chinh được cử ở lại trấn giữ vùng đất mới, họ khai mở ra các làng chài/vạn chài với đặc trưng sản xuất ngư nghiệp.
Không gian và kiến trúc làng chài thường nằm ven biển, gần cửa sông, cửa biển hoặc các vịnh. Làng chài/vạn chài thường có ranh giới rõ ràng, trung tâm là đình làng, lăng miếu thờ cá Ông, nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của cộng đồng. Nhà ở truyền thống trước đây thường làm bằng tre, dừa, thường hướng ra biển để thuận tiện sử dụng ghe thuyền.
Cấu trúc xã hội làng biển có tính khép kín dựa trên sự gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên để sinh tồn. Cấu trúc của làng biển về cơ bản tương tự cấu trúc của làng nông nghiệp.

Một góc làng biển Nam Ô (năm 2012). Ảnh: VŨ HOÀI AN
Nếp sống cộng đồng của cư dân biển
Yếu tố văn hóa bản địa ở làng biển rất ổn định, ít bị phá vỡ, điều đó thể hiện ở phương thức sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Ở đây, tính cộng đồng tương thân tương ái rất cao, làm nên bản sắc văn hóa của con người vùng biển cần cù, chất phác, cởi mở, hiếu khách. Nổi bật là tục thờ thần Nam Hải thể hiện niềm tin vào sự che chở của biển cả.
Giai đoạn đầu đi vào phương Nam, ngư dân từ nhiều nơi tụ lại thành vạn hay làng chài, là một đơn vị hành chính cấp cơ sở, có các chức dịch như một xã. Đứng đầu có cai vạn, vạn trưởng cùng hội đồng trưởng lão.
Xưa, ở xứ Quảng có gần 30 vạn như vạn Nam Ô, Thanh Khê, Mân Thái, Bàn Thạch, Hà Nhai, Trung Phước, Diêm Điền, Võng Nhi, Nồi Rang, Bến Cỏ, Tân An, Liên Trì, Phú Tài, Phước An, Tam Thanh, Bến Ván, Cây Trâm, An Hòa… Các vạn có thủy điền, đăng, đáy, nhờ tứ cận hoặc giới hạn thượng lưu - hạ lưu ở các quãng sông lớn Trường Giang, Thu Bồn hoặc ở vị trí ngã ba sông Tam Kỳ, An Hòa, Cẩm Lệ, sông Hàn, Thúy Loan hoặc gần nơi các cửa sông giáp biển đến Cửa Đại.
Có vạn sống dọc ven sông hoặc vạn sống dọc theo bãi ngang. Mỗi vạn có chừng 20 đến 60 hộ gia đình. Đôi khi vạn có sự dịch chuyển từ cửa sông vào khúc sông ít sóng gió hoặc theo ven biển bãi ngang. Các làng chài dọc ven biển xứ Quảng ít làm nghề nông, nhưng các vạn chài trên sông lại có hộ làm nghề nông bên cạnh nghề đi sông đi biển.
Làng biển trong nhịp chuyển hôm nay
Làng biển truyền thống có ranh giới rõ ràng, được xác định bằng cửa biển, khe sông. Cấu trúc không gian điển hình với trung tâm là đình làng, giếng nước, nơi hội tụ sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng, xung quanh là nhà ở dân cư và hệ thống đường làng ngõ xóm. Cách tổ chức này tạo ra sự bền chặt về quan hệ xã hội và tính cộng đồng cao trong đời sống cư dân.

Làng biển Tam Tiến. Ảnh: NGUYỄN SANH QUỐC HUY
Làng biển cũng là đơn vị tự quản hoạt động theo khoán ước của làng chài, cư dân biển ở xứ Quảng thường gọi là “khoán vạn”.
Hiện nay, không gian làng biển đã trải qua những biến chuyển sâu sắc, không chỉ về cấu trúc vật chất mà còn về ý nghĩa biểu tượng gắn liền với ký ức cộng đồng. Quá trình đô thị hóa và mở rộng hạ tầng đã làm thay đổi nền tảng của không gian làng biển truyền thống, ranh giới giữa làng biển và đô thị càng gần thì các yếu tố văn hóa cổ truyền và hiện đại phải cùng đan xen tồn tại.
Việc hợp nhất các đơn vị hành chính cấp xã không đơn thuần là sự thay đổi địa giới, mà còn là một quá trình tái cấu trúc về tổ chức và cơ chế vận hành của đời sống làng biển. Không gian kinh tế làng biển được mở rộng, đất đai và nguồn lực sản xuất được điều phối hợp lý hơn, bản sắc văn hóa, thiết chế truyền thống được bảo tồn trong xu thế phát triển mới. Làng biển trở thành một thực thể năng động trong xu thế biến đổi xã hội và hội nhập toàn cầu.
Để làng biển vừa phát triển kinh tế, vừa ổn định xã hội, bảo tồn được văn hóa và bản sắc, cần có cách tiếp cận toàn diện, dung hòa giữa truyền thống và hiện đại. Mất đi bản sắc, sẽ mất một phần “căn cước” văn hóa làng biển.





























