Từ nhịp võng làng Trù đến lời ru đất nước
Năm 1890, cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời tại quê ngoại là làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thời đó, khắp các làng quê Việt Nam, nơi nào cũng có hình ảnh quen thuộc là người mẹ, người chị lắc lư chiếc nôi bằng tre và cất tiếng hát ru đứa trẻ vào giấc ngủ. Bên dòng sông Lam thời đó, các bà mẹ hay hát: 'Ru con, con ngủ cho nồng / Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng / Làm trai quyết chí anh hùng / Ra tay gánh vác giang sơn cuộc đời'.
Bên dòng sông Lam
Trong quá khứ, hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam là mái nhà tranh vách đất, bên cạnh lũy tre là chiếc võng được dệt từ cây lá gai, vỏ tàu, sợi đay... Đêm về luôn vang lên tiếng trống để báo hiệu thời gian (canh một, canh hai, canh ba...). Những đứa trẻ sinh ra được nằm trong chiếc nôi đan bằng tre. Chiếc nôi lúc lắc, người mẹ hoặc người chị thay nhau cất lời hát ru. "À ơi... Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con".
Ngày 19/5/1890, tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời. Làng Hoàng Trù nằm cạnh dòng sông Lam. Hai bên bờ sông Lam từ Kim Liên quê Bác đến Tiên Điền được ví là cái nôi của khoa bảng xứ Nghệ. Theo tài liệu khoa bảng xứ Nghệ, trong gần 8 thế kỷ khoa bảng, trong số 186 vị đậu đại khoa cả nước (từ Tiến sĩ trở lên) thì Nam Đàn chiếm 26 vị, 99 vị đỗ Trung khoa và 100 vị đỗ Tiểu khoa (sinh đồ).

Ngôi nhà tranh đơn sơ, mộc mạc tại làng Hoàng Trù, quê ngoại Bác Hồ
Tên thuở nhỏ của Bác là Nguyễn Sinh Cung. Theo lý giải của người xưa, cái tên ấy không chỉ mang hàm ý về sự chào đời trong một gia đình nền nếp, mà còn gửi gắm kỳ vọng của cha mẹ về một người con có phẩm chất cung kính, khiêm nhường và trọng lễ nghĩa gia phong. Chính trong bầu không khí đậm chất văn hóa, lễ giáo và hiếu học ấy, những làn điệu dân ca xứ Nghệ đã thấm vào tâm hồn cậu bé như một lẽ tự nhiên. Những câu ví, câu hò bên dòng sông Lam không chỉ là lời ru, mà còn là bài học về nhân tình thế thái. Có lẽ vì vậy mà ngay cả khi đã ở cương vị Chủ tịch nước, ký ức về quê hương vẫn luôn vẹn nguyên trong tâm trí Người.

Hình ảnh khung dệt và chiếc võng quen thuộc gắn liền với tuổi thơ của Bác
Bà Nguyễn Thị Kiều Anh, một người con Nghệ An từng công tác trong ngành Bưu chính viễn thông, vẫn nhớ mãi kỷ niệm vào cuối năm 1968. Khi ấy, trong một dịp tham gia Hội diễn đờn ca nghiệp dư toàn quốc tại Hà Nội, bà cùng 3 nghệ sĩ khác được Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam Trần Lâm đưa tới thăm Bác và các lãnh đạo Trung ương. Trong niềm xúc động, Bác đã ân cần hỏi cô gái nhỏ: "Ở Nghệ An cháu có biết hát ví phường vải không? Ngày xưa ở quê ta, người dân hay trồng dâu, nuôi tằm, quay tơ, dệt vải; bên này một câu, bên kia một câu đối đáp, gọi là hát phường vải". Lời hỏi của Bác không chỉ là sự quan tâm đến phong trào văn nghệ, mà là sự hoài niệm thiết tha về một nét đẹp văn hóa bình dị, nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn Người từ thuở lọt lòng.
Nhân cách thiên bẩm
Khi cậu bé Nguyễn Sinh Cung lên 10 tuổi thì người mẹ đột ngột qua đời. Rồi vài năm sau đó, xã hội Việt Nam sôi sục với phong trào chống sưu thuế Trung kỳ năm 1908. Lời ru của các bà mẹ lúc đó luôn nhắc tới bài vè của Phan Châu Trinh: "Từ ngày Tây chiếm đế đô / Xâu cao thuế nặng biết chừng mô hỡi trời! / Còn lo một nỗi khổ đời / Quan trên ỷ thế nhiều lời hiếp dân...".
Phong trào chống sưu thuế Trung kỳ bắt đầu từ Quảng Nam, lan sang Quảng Ngãi, tới Bình Định, vào Phú Yên, ra Huế, ra Nghệ An, Thanh Hóa. Nhiều nông dân đã bị lính bắn chết, bị bắt đày đi nhà tù Lao Bảo. Mức thuế thân lúc đó khiến nhiều người kiệt quệ, vì người đàn ông từ 18 đến 60 tuổi phải nộp 2,40 đồng Đông Dương/năm. Tại Huế lúc đó, Nguyễn Sinh Côn (tên khi đi học của Bác) cũng hòa mình vào dòng người, xuống đường đấu tranh.
Những người bạn học của cậu Nguyễn Sinh Côn không ngờ rằng, trước đó chưa lâu, khi cậu mới từ xứ Nghệ tới Huế, cậu vẫn mặc bộ quần áo màu nâu, tóc để chỏm, đi guốc gỗ quai mây. Nhưng chỉ một thời gian sau, cậu đã trở thành một học sinh năng nổ, luôn thể hiện tinh thần yêu nước. Nguyễn Sinh Côn đã dũng cảm đứng ra làm thông ngôn để chuyển lời đấu tranh của đồng bào đến với các ông quan Tây ở Tòa khâm sứ Trung kỳ. Lúc đó, cậu học sinh xứ Nghệ đã hòa nhập với cuộc sống ở kinh đô Huế, mặc quần vải quyến trắng, áo vải dù đen, đội nón lá 16 vành.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân từng gặp được những nhân chứng là bạn học của Nguyễn Sinh Côn tại Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Huế là nhà giáo Lê Thiện. Ông Thiện kể lại rằng: "Côn học giỏi nhưng không học "gạo", học môn gì anh cũng hỏi cặn kẽ, nếu thầy trả lời không thỏa mãn, anh hỏi đến khi ngã ngũ mới thôi. Hán văn anh giỏi nhất lớp, Pháp văn không có trò Nghệ nào bằng anh".
Trong kho tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh còn lưu giữ bức thư ngày 04/8/1908, Khâm sứ Trung kỳ Silvain Lévecque yêu cầu nhà trường Quốc học Huế trả lời về lai lịch của cậu học trò Nguyễn Sinh Côn. Chỉ cần nhìn lại những hành động của cậu học trò Nguyễn Sinh Côn, đủ cho chúng ta thấy rằng, ngay từ lúc nhỏ, trong trái tim của người thanh niên làng Trù đã luôn dóng dả những nhịp đập gắn với số phận của dân tộc. Rồi từ ngày ấy, câu ca ru con của các bà mẹ bên dòng sông Lam ở xứ Nghệ lại đăm đắm nỗi đau đất nước: "Hò ơi... Làm trai quyết chí anh hùng / Ra tay gánh vác giang sơn cuộc đời / Dẫu rằng biển rộng, trời khơi / Chí bền thì vượt muôn nơi ngại gì...".
Đoạn tiếp trong bài hò ru con này là 2 câu: "Gươm mài đá, đá cũng mòn / Làm trai lỡ bước, hãy còn non sông". Có thể, cậu học trò Nguyễn Sinh Côn đã đăm đắm trong tim những câu thơ ấy trên bước đường bộ hành cùng cha tiếp tục đi vào phương Nam. Vì sau đó, cha của cậu bị điều về giữ chức Tri huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định) vào năm 1909, rồi sau đó cụ bị giáng chức. Người con trai nuôi chí lớn, đi dần về phương Nam, rồi xuống tàu Latouche-Tréville vào ngày 05/6/1911 tại Bến Nhà Rồng, bắt đầu hành trình vạn dặm tìm đường cứu nước.
Trái tim nhân loại
Những năm bôn ba ở nước ngoài, một trong những dấu ấn của Nguyễn Ái Quốc thường được nhắc đến đó là thành lập, trở thành chủ bút của tờ báo Le Paria. Theo các nhà nghiên cứu, nội dung tờ báo cho thấy Nguyễn Ái Quốc không chỉ hướng về dân tộc Việt Nam, mà còn hướng tới các dân tộc đang bị áp bức trên thế giới.
Ngày đó, Nguyễn Ái Quốc lý giải tên của tờ báo rằng: "Nhân dân Pháp cũng thích chơi chữ. Nay ra tờ báo nhỏ ở ngay Paris tuy là tiếng nói đầu tiên của dân chúng thuộc địa, nhưng chưa có thanh thế, thì lấy tên báo là Paria là hay nhất! Paria nguyên là tiếng của Ấn Độ dùng để gọi những người đã mất hết quyền lợi về tôn giáo và xã hội. Nghĩa rộng người Pháp dùng để gọi những "Người cùng khổ"".
Ngày nay, tại bang Tây Bengal (Ấn Độ) có đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh và một con đường mang tên Ho Chi Minh Sarani. Sự tôn vinh này bắt nguồn từ sự đồng cảm sâu sắc và tình đoàn kết gắn bó giữa Nhân dân hai nước trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, được vun đắp bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo kiệt xuất của Ấn Độ như Mahatma Gandhi hay Thủ tướng Jawaharlal Nehru. Dưới ách cai trị của thực dân Anh, nhân dân Ấn Độ từng phải chịu đựng những đau thương vô cùng khốc liệt, điển hình là các nạn đói kinh hoàng làm hàng triệu người thiệt mạng do chính sách vơ vét lương thực và bóc lột tài nguyên.
Những lời ru bên dòng Lam gieo vào tâm hồn Nguyễn Sinh Cung, thì những năm tháng bôn ba qua nhiều châu lục đã mở rộng tình yêu ấy thành sự đồng cảm với những con người cùng khổ và các dân tộc bị áp bức. Từ một cậu bé làng Trù, Người đã đi tới một chân trời rộng lớn hơn: chân trời của nhân loại. Tờ báo Le Paria trở thành diễn đàn của các dân tộc thuộc địa bị áp bức.
Giờ đây, mỗi khi trở lại làng Kim Liên, nhìn ngôi nhà sàn đơn sơ trong khu di tích, mọi người sẽ cảm nhận và hiểu được, tại sao nhiều năm sau, khi trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác Hồ vào làm việc tại Phủ Chủ tịch, nhưng vẫn yêu cầu làm một ngôi nhà sàn trong vườn. Vì tâm hồn Hồ Chí Minh luôn thuộc về quê hương, dân tộc Việt Nam, những làng quê rơm rạ, những con người bị áp bức trên thế giới.
Cả cuộc đời Bác đã dành trọn cho đất nước, cho Nhân dân, để hôm nay trong ngày trẩy hội non sông, thế hệ cháu con lại dâng lên niềm tự hào và nguyện ra sức học tập, rèn luyện, thực hành theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Một dấu ấn lịch sử của Cách mạng Tháng Tám là Đại hội Tân Trào (16 - 17/8/1945). Từ đây, Việt Minh thông qua 10 chính sách lớn, chọn quốc kỳ, quốc ca, bầu Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Sau ngày đại hội đó, dân gian truyền lại những câu thơ: "Mình về mình lại nhớ ta / Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào".
