Từ mùa Thu độc lập đến sứ mệnh Mặt trận hôm nay
81 năm sau ngày 2/9/1945, bài học về sức mạnh lòng dân vẫn còn nguyên giá trị. Hôm nay, bài học ấy tiếp tục gợi mở yêu cầu cốt lõi đối với MTTQ Việt Nam: quy tụ lòng dân, phát huy dân chủ và tạo điều kiện để Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước ngày càng vững mạnh.
Từ ngọn cờ Việt Minh đến sức mạnh toàn dân
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, họp tại Pác Bó (Cao Bằng) từ ngày 10 đến 19/5/1941 dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh - Việt Minh. Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời, quy tụ lực lượng quanh mục tiêu độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào.
Giá trị nổi bật của Việt Minh không chỉ ở mục tiêu có sức hiệu triệu, mà ở khả năng tổ chức mục tiêu ấy thành lực lượng xã hội rộng lớn. Các Hội Cứu quốc, cơ sở cách mạng, lực lượng tự vệ, căn cứ địa và phong trào cứu quốc từng bước phát triển. Dưới ngọn cờ Việt Minh, nhiều giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam yêu nước gặp nhau ở điểm chung cao nhất: độc lập dân tộc.

Những tuyến phố khu vực trung tâm được trang hoàng rực rỡ chào mừng 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh: Quang Vinh
Khi thời cơ lịch sử xuất hiện vào tháng Tám năm 1945, lời hiệu triệu Tổng khởi nghĩa đã gặp lực lượng quần chúng được giác ngộ, tập hợp và tổ chức qua cả một quá trình. Cách mạng Tháng Tám là kết quả của đường lối đúng, sự chuẩn bị lực lượng lâu dài và khả năng biến tinh thần yêu nước thành sức mạnh hành động. Việt Minh vì thế trở thành hạt nhân quy tụ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Sức mạnh đại đoàn kết chuyển hóa thành quyền lực cách mạng
Vai trò của Mặt trận thể hiện tập trung tại Quốc dân Đại hội Tân Trào. Trong hai ngày 16 và 17/8/1945, hơn 60 đại biểu đại diện ba miền, các đảng phái chính trị, đoàn thể cứu quốc, các dân tộc, tôn giáo và một số Việt kiều ở Thái Lan, Lào dự Đại hội do Tổng bộ Việt Minh triệu tập. Trong điều kiện chưa thể tổ chức tổng tuyển cử, thành phần ấy cho thấy nỗ lực mở rộng đại diện và tập hợp ý chí quốc dân.
Quốc dân Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, bầu Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; đồng thời quyết định Quốc kỳ, Quốc ca. Có thể nhìn nhận Quốc dân Đại hội Tân Trào là tiền thân của Quốc hội ngày nay. Tân Trào cho thấy sức mạnh đoàn kết bắt đầu chuyển hóa thành quyền lực cách mạng.
Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam là một hình thức Chính phủ nhân dân lâm thời. Ngày 27/8/1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhiều thành viên Việt Minh tự nguyện rút để mời thêm nhân sĩ ngoài Việt Minh tham gia. Tuyên cáo ngày 28/8 khẳng định đây không phải Chính phủ riêng của Việt Minh, mà là Chính phủ quốc gia thống nhất, chờ Quốc hội được triệu tập để cử ra Chính phủ chính thức.
Chi tiết ấy làm nổi bật bài học: đoàn kết không nhằm tạo đặc quyền cho một tổ chức, mà để mở rộng lực lượng cùng gánh vác việc nước vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3/9, Người đề nghị tổ chức Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Từ Tân Trào đến Ba Đình và tiến tới Tổng tuyển cử, quyền làm chủ của Nhân dân từng bước trở thành nền tảng của Nhà nước mới.

Quảng trường Ba Đình rực sắc cờ đỏ sao vàng, hoa tươi và biểu ngữ chào mừng Ngày Quốc khánh 2-9. Ảnh: Quang Vinh
Bài học về lòng dân trong giai đoạn phát triển mới
81 năm đã đi qua, bối cảnh đất nước thay đổi sâu sắc, nhưng bài học năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị: muốn thực hiện những mục tiêu lớn phải tập hợp và phát huy sức mạnh toàn dân. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, xác định Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời đặt yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Trong cấu trúc đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm đặc biệt. Mặt trận không làm thay Nhà nước, không làm thay các tổ chức thành viên; vai trò cốt lõi là quy tụ, hiệp thương, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, giám sát, phản biện xã hội và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Văn kiện Đại hội XI Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiệm kỳ 2026-2031, nhấn mạnh phải lấy Nhân dân làm trung tâm; hiệu quả công tác phải được nhìn từ niềm tin, sự hài lòng, mức độ tham gia và những kết quả cụ thể đối với đời sống Nhân dân.
Từ yêu cầu đó, công tác Mặt trận hiện nay cần tập trung vào bốn vấn đề.
Trước hết, sức tập hợp phải rộng hơn bộ máy. Bên cạnh cộng đồng dân cư truyền thống xuất hiện ngày càng nhiều cộng đồng nghề nghiệp, người lao động di cư, doanh nhân, chuyên gia, các nhóm trên không gian số và người Việt Nam ở nước ngoài. Mặt trận phải hiện diện ở những không gian xã hội mới, lắng nghe bằng nhiều kênh, tăng đối thoại và thuyết phục bằng kết quả cụ thể. Đại đoàn kết chỉ bền vững khi sự khác biệt chính đáng được tôn trọng và mọi thành viên cộng đồng dân tộc đều có cơ hội đóng góp.
Thứ hai, phải làm sâu sắc vai trò cầu nối hai chiều giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước. Mặt trận không chỉ đưa chủ trương, chính sách đến với dân, mà còn phải chuyển tải kịp thời tiếng nói, nguyện vọng, sáng kiến và những bức xúc chính đáng của Nhân dân tới cơ quan có thẩm quyền. Đại hội XIV đặt ra yêu cầu xây dựng cơ chế để Nhân dân tham gia góp ý vào chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gắn với trách nhiệm giải trình. Đó là không gian để Mặt trận phát huy chức năng đại diện và vai trò nòng cốt trong thực hành dân chủ.

Phố Tràng Tiền rực rỡ cờ hoa chào mừng Quốc khánh 2-9. Ảnh: Quang Vinh
Thứ ba, giám sát và phản biện xã hội phải chuyển từ “có hoạt động” sang “có tác động”. Giai đoạn 2024-2026, theo Báo cáo chính trị trình Đại hội XI, Mặt trận các cấp đã phối hợp tổ chức hơn 2.300 cuộc giám sát; các địa phương tổ chức 1.362 hội nghị phản biện, tham vấn những quyết sách liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Quan trọng hơn con số là kiến nghị có được tiếp thu, vấn đề của người dân có được giải quyết hay không. Phản biện vì vậy cần tiến hành từ sớm, dựa vào dữ liệu, chuyên gia và tiếng nói từ cơ sở, đồng thời theo dõi đến cùng việc xử lý kiến nghị.
Thứ tư, phải chuyển sức mạnh đại đoàn kết thành nguồn lực phát triển. Nghị quyết Đại hội XI cụ thể hóa nhiệm kỳ 2026-2031 bằng 15 chỉ tiêu, 3 nhiệm vụ đột phá và 7 chương trình hành động, từ tập hợp Nhân dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng, giám sát, phản biện đến tự quản cộng đồng, đối ngoại Nhân dân, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Đại đoàn kết hôm nay vì thế còn được đo bằng khả năng quy tụ trí tuệ, nguồn lực và trách nhiệm xã hội của người Việt Nam trong và ngoài nước cho mục tiêu phát triển.
Nhìn lại năm 1945, giá trị lớn của Mặt trận Việt Minh là tìm được điểm tương đồng cao nhất, tập hợp lực lượng rộng rãi và biến đồng thuận thành hành động. Hôm nay, điểm tương đồng đó là khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Mặt trận càng gần dân, hiểu dân, bảo vệ tốt quyền lợi chính đáng và mở rộng con đường để Nhân dân tham gia việc nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng bền chặt.
Kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9, từ Tân Trào đến Ba Đình, từ mùa Thu Độc lập đến kỷ nguyên mới, một bài học vẫn sáng rõ: lòng dân là nền tảng của sức mạnh quốc gia. Phát huy truyền thống Mặt trận chính là tiếp tục quy tụ, lắng nghe, phát huy sức mạnh ấy và chuyển hóa thành hành động vì tương lai đất nước.
