Từ mùa Thu độc lập...
81 năm sau ngày 2/9/1945, giá trị của mùa Thu Độc lập không chỉ nằm trong ký ức về một dân tộc đã giành lại quyền tự quyết, mà còn tiếp tục soi sáng cách Việt Nam bước vào một thế giới nhiều biến động.

Sơ duyệt cấp Nhà nước chương trình diễu binh, diễu hành chuẩn bị tổng duyệt và thực hiện nhiệm vụ chính thức trong đại lễ Quốc khánh 2/9/2025. (Ảnh: Nguyễn Hồng)
Trong kỷ nguyên phát triển mới, độc lập phải được bồi đắp bằng năng lực tự chủ chiến lược, bằng một Nhà nước kiến tạo, một nền kinh tế có sức chống chịu, một nền văn hóa có bản lĩnh và một thế đối ngoại đủ tự tin để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã thể hiện rõ tinh thần đó khi xác định chuyển sang mô hình phát triển “tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập”, trong đó nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, đột phá; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro. Ở góc độ đó, Quốc khánh 2/9 không chỉ là ngày để tự hào về nền độc lập đã giành được, mà còn là dịp để mỗi thế hệ tự hỏi mình đang làm gì để nền độc lập ấy bền vững hơn.
Để xây dựng một Việt Nam tự cường, điều kiện có ý nghĩa quyết định là phải có một Nhà nước đủ năng lực kiến tạo phát triển. Một quốc gia không thể nâng cao vị thế quốc tế nếu bên trong vẫn tồn tại những điểm nghẽn kéo dài về thể chế, thủ tục, phân bổ nguồn lực hay trách nhiệm thực thi. Sức mạnh đối ngoại trước hết phải được tạo nên từ sức mạnh bên trong.
Đây cũng là điểm rất đáng chú ý trong Nghị quyết 19-NQ/TW khi xác định đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá; chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển; quản trị dựa trên mục tiêu, dữ liệu, khả năng phản ứng chính sách và kết quả phát triển; lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ nhân dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo.
Vì vậy, Nhà nước kiến tạo phải làm được ba việc. Thứ nhất, tạo ra một thể chế minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo, để người dân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư cho dài hạn. Thứ hai, khơi thông và phân bổ hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn lực đất đai, tài chính, khoa học - công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực. Thứ ba, tạo ra một môi trường khuyến khích sáng tạo, nơi những người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung được bảo vệ và những mô hình mới có không gian để thử nghiệm.
Tinh thần ấy gắn chặt với thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rằng “tổ chức mới phải tạo ra năng lực mới”. Sau những thay đổi lớn về tổ chức bộ máy, điều quan trọng nhất không còn nằm ở sơ đồ tổ chức, mà ở chất lượng vận hành. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở cải cách hành chính, chúng ta vẫn chưa đi hết ý nghĩa của Nhà nước kiến tạo. Ở tầm quốc gia, Nhà nước phải đóng vai trò tạo lập những năng lực mà thị trường đơn lẻ khó có thể tự hình thành.
Trong quan hệ quốc tế, một Việt Nam có nội lực mạnh sẽ có tiếng nói mạnh hơn. Đối ngoại không chỉ là nghệ thuật mở rộng quan hệ, mà còn là quá trình chuyển hóa quan hệ thành nguồn lực phát triển và chuyển hóa năng lực phát triển thành vị thế quốc gia.
Mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 không chỉ là một cột mốc kinh tế. Đó là sự tiếp nối logic của hành trình độc lập: Từ giành quyền tự quyết đến tạo ra năng lực để sử dụng quyền tự quyết ấy một cách hiệu quả; từ giành lại vị thế quốc gia đến xây dựng một vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.
