Từ kinh đô đến cố đô

Nếu người Hà Nội mang trong mình nét thanh lịch của Kinh đô Thăng Long nghìn năm văn hiến, thì người Huế lại ẩn chứa sự dịu dàng, duyên dáng của đất cố đô. Là người sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Tràng An, có dịp cùng gia đình du lịch tới xứ sở mộng mơ, tôi nhận ra nét tương đồng xen lẫn khác biệt giữa hai thành phố này.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) và chùa Thiên Mụ (Huế) đều là những di tích lịch sử - văn hóa có nhiều nét tương đồng sâu sắc về giá trị lịch sử, vai trò tâm linh văn hóa và nghệ thuật kiến trúc truyền thống

Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) và chùa Thiên Mụ (Huế) đều là những di tích lịch sử - văn hóa có nhiều nét tương đồng sâu sắc về giá trị lịch sử, vai trò tâm linh văn hóa và nghệ thuật kiến trúc truyền thống

Hai con sông, hai thành phố

Nhắc đến Thăng Long là nhắc đến vùng đất có lịch sử nghìn năm, là kinh đô lâu đời nhất Việt Nam, là Thủ đô - trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội của cả nước. Còn nhắc đến Huế là gợi nhớ về một kinh thành cổ kính, nơi ghi dấu triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử dân tộc. Điểm chung của 2 thành phố đều là đất kinh kỳ đô hội với những di sản văn hóa để lại cho muôn đời, là báu vật tinh thần và cũng là tài sản cha ông để lại cho 2 thành phố khai thác, phát triển ngành công nghiệp không khói.

Nếu Huế có kinh thành, đền đài, lăng tẩm, mà hạt nhân là Đại nội còn giữ khá nguyên vẹn đến ngày nay, thì Hà Nội có một quần thể dày đặc các di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng, trong đó có Hoàng thành Thăng Long, đang được các nhà khảo cổ khám phá cả bề nổi lẫn bề sâu trầm tích, dần phát lộ những điều mới mẻ, thú vị, thể hiện các tầng văn hóa qua các triều đại, khởi phát từ triều Lý (thế kỷ thứ XI). Với văn hóa phi vật thể, nếu Hà Nội có nghi lễ cung đình, lễ tế đàn Xã tắc, nghệ thuật ca trù, nghệ thuật hát xẩm trong không gian văn hóa Thăng Long, thì Huế có nghi lễ triều Nguyễn, lễ tế đàn Nam giao, nhã nhạc cung đình… đặc biệt là ca Huế - một thể loại ca hát được ví như “thính phòng cổ truyền”. Cả kinh đô và cố đô đều đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Chỉ khác thời điểm, nếu Cố đô Huế được công nhận vào năm 1993, thì Hoàng thành Thăng Long được công nhận vào năm 2010, đúng dịp Thủ đô tổ chức Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Tới Huế, tôi thực sự ấn tượng với dòng sông Hương chảy qua thành phố. Ngồi thuyền rồng, nghe ca Huế trên sông Hương lững lờ trôi, bên kia là cầu Tràng Tiền sáng rực ánh đèn, tôi chợt nhớ đến sông Hồng chảy qua Hà Nội. Nơi ấy cũng có cây cầu Long Biên nối hai bờ tả hữu, tuổi đời của cầu đã hơn 1 thế kỷ và nhận ra những điều thú vị quanh 2 con sông này.

Sông Hồng là con sông lớn đi qua Hà Nội. Vào mùa lũ, dòng nước cuồn cuộn chảy mang theo phù sa bồi đắp, tạo nên nền văn minh lúa nước vùng đồng bằng Bắc bộ. Sông Hồng gắn với một Thăng Long hào hoa, mạnh mẽ, luôn chuyển động như con rồng bay lên, xứng đáng tầm vóc một đô thị lớn, nhưng vẫn giữ được nét cổ kính với những mái ngói thâm nâu của 36 phố phường, với những tiếng rao hàng rong buổi sớm, với những mùa hoa nối tiếp nhau được trồng từ các làng cổ ven sông. Hai bờ Nhị Hà (tên cổ của sông Hồng) còn là những làng mạc đã hình thành hàng trăm năm như nguồn mạch nuôi dưỡng cư dân một vùng châu thổ.

So với sông Hồng, sông Hương lại mang một dáng vẻ hoàn toàn trái ngược. Đó là một con sông êm đềm, thơ mộng, chảy qua một đô thị nhỏ và dòng chảy không ồn ào mà trầm tư, sâu lắng như chính con người Huế vậy. Sông Hương gắn với văn hóa cung đình, phật giáo, thi ca, âm nhạc và đời sống Huế. Nó là dòng sông của một kinh đô cổ, lặng lẽ mà bền bỉ chảy qua tâm hồn của người dân xứ Huế.

Nét văn hóa kinh kỳ

Áo dài là trang phục dân tộc truyền thống của các bà, các mẹ, các chị ở mọi miền Tổ quốc và cả người Việt ở nước ngoài. Nhưng nếu quan sát, ta nhận ra cái chung và cái riêng giữa tà áo dài truyền thống của người Hà Nội và tà áo dài truyền thống của phụ nữ Huế. Nếu áo dài Hà Nội mang cái thanh của phố thì áo dài Huế mang cái thơ của sông. Một bên nền nã, thanh lịch, một bên dịu dàng, thướt tha, nhưng chúng đều gặp nhau ở vẻ đẹp kín đáo, duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam. Nếu màu trắng mang sự thanh tân cho các nữ sinh Hà thành thì màu tím mang dáng vẻ trầm mặc, tạo sự duyên dáng cho phụ nữ Huế.

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” - người Hà Nội có nét thanh lịch của đất kinh đô. Cái thanh lịch ấy nhiều khi không nằm trong những điều lớn lao mà ở lời ăn tiếng nói, ở cách thưởng trà, cách chọn một thức quà, cách đi đứng duyên dáng được uốn nắn từ khi còn là thiếu nữ và cả sự tinh tế trong những món ẩm thực của người Hà Nội.

Người Huế lại có cái dịu dàng, kín đáo của cố đô, đúng như lời thơ trong bài “Rất Huế” của tác giả Huỳnh Văn Dung: “Giữ chút gì rất Huế mặn mà/ Dạ thưa ngọt lịm ai mê say/ Em đi gót nhẹ xanh hồn cỏ/ Và hơi thở mềm sương khói bay”… Một giọng nói nhẹ, một nụ cười hiền, một tà áo dài tím đoan trang thấp thoáng bên hàng cây xanh mướt. Tới xứ Huế, có lẽ điều đọng lại nhất lại là tiếng “dạ... thưa...” ngọt lịm như những cốc chè vốn là đặc sản nổi tiếng và độc đáo ở thành phố này.

Nếu tiếng “vâng” trong giao tiếp của người Hà Nội thể hiện sự chuẩn mực, nền nếp thì tiếng “dạ” của người Huế lại thể hiện sự mềm mại, khiêm nhường. Tôi đã đọc đâu đó một đoạn văn đại ý: Đến Huế, du khách đôi khi không nhớ nổi một tên đường, nhưng chắc chắn điều đọng lại là tiếng “dạ” ngọt lịm, duyên dáng từ một cô gái Huế.

Cầu Long Biên (Hà Nội) có tuổi đời hơn 1 thế kỷ

Cầu Long Biên (Hà Nội) có tuổi đời hơn 1 thế kỷ

Ẩm thực Hà Nội - Huế

Cả Hà Nội và Huế đều có món chè được khách phương xa yêu mến. Nếu Hà Nội có những món chè làm nên tên tuổi đất Hà thành như chè bưởi, chè cốm, chè sen, chè kho… thì các món chè ở Huế có vẻ đa dạng và phong phú hơn. Đến Quán chè Hẻm hay Quán chè mợ Tôn Đích ở thành phố Huế là cả một menu dài cho du khách lựa chọn. Trong đó độc đáo nhất phải kể đến chè nhân bột lọc heo quay. Chè ở Huế giá rất bình dân, chỉ khoảng 15 - 17 nghìn đồng/ly. Không riêng gì chè, dù là thành phố du lịch, nhưng ăn uống ở Huế giá cả rất dễ chịu và người dân cũng rất thật thà, chất phác. Cả người Huế và người Hà Nội đều có sự tinh tế trong ẩm thực. Bên cạnh đặc điểm người Huế thích ăn cay và nhiều rau sống, thì cũng có những nét chung, hay nói khác đi là sự mến mộ nét ẩm thực lẫn nhau. Bằng chứng là, có khá nhiều quán Huế được mở tại Hà Nội thu hút thực khách. Ngược lại, khi du lịch tới Huế, tôi quan sát thấy có một số quán ăn đại diện cho ẩm thực Thủ đô như bánh mỳ Hà Nội, xôi xéo Hà Nội, đặc biệt là phở Hà Nội được bán tại cố đô.

Văn hóa Việt Nam, vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam là thương hiệu chung đối với du khách quốc tế. Nhưng trong bản sắc chung ấy, từng vùng miền của Tổ quốc lại có những nét riêng, Huế và Hà Nội đã làm nên những nét riêng độc đáo, thú vị khiến du khách phương xa đã đến một lần là lưu luyến không muốn rời.

Trần Minh

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/tu-kinh-do-den-co-do-post670009.antd