Từ Bính Ngọ và nước non ngàn dặm…
Bính Ngọ năm 2026 này không thể không nhớ về Bính Ngọ năm 1306 ấy, không thể không lắng nghe bao nhiêu nỗi niềm còn vang vọng Huyền Trân!
Từ trung tâm thành phố Huế xuôi theo quốc lộ 1 chừng bốn mươi cây số, đến đầu thị trấn Phú Lộc (cũ), rẽ vào tay trái là gặp một khu nghỉ dưỡng nằm bên đầm Cầu Hai, lặng lẽ và khuất mình giữa nước trời mênh mang. Không gian ấy đem lại một cảm giác an nhiên rất khó gọi tên: sự lắng dịu trước mênh mang đầm phá khác với sự mênh mang của biển cả, chỉ cách đó một bờ cát dài. Gió thổi qua những hàng cây thấp. Ai cũng có thể tự cảm nhận sự thư thái mà đầm ban tặng.
Với tôi, mỗi lần dừng chân nơi đây, cảm thụ ấy lại mang một chiều kích khác. Đó là cảm giác được chạm vào một lớp không gian lịch sử đã lùi xa hơn bảy thế kỷ. Từ bất cứ căn nhà nghỉ nào cũng có thể phóng tầm mắt xuống mặt nước đầm lấp lóa một thứ ánh sáng cổ xưa, mờ ảo. Trong ánh sáng huyền hoặc ấy là hình bóng một người con gái Đại Việt đã in bóng mình trên sóng nước nơi đây: công chúa Huyền Trân!
Trên sóng nước Cầu Hai
Rất nhiều lần dậy sớm để chụp ảnh bình minh trên đầm Cầu Hai, hình ảnh đầu tiên nằm chính giữa không gian khoáng đạt của mặt nước, nối giữa đầm phá và biển Đông là một cửa bể với chiếc cầu bắc qua mang cái tên: Tư Hiền - cũng là tên cửa bể này.
Tôi chợt nhớ đến công chúa Huyền Trân trong những tháng ngày khi mà công cuộc “sắp xếp giang san” đang diễn ra với bao nhiêu xao động cảm xúc. Những địa danh bao đời sau sáp nhập có người lo rồi sẽ chìm trong lãng quên. Nhưng giang san là chuyện ngàn năm, địa danh đổi dời có thể không còn trên những văn bản với dấu mộc đỏ chót, nhưng giữa tim người, những gì gắn bó với quê trìu mến thương yêu ấy sẽ vẫn đỏ hồng luân lưu cùng dòng máu. Như giờ đây cây cầu ấy, cửa bể ấy mang tên Tư Hiền nhưng bảy thế kỷ trước lại có tên Tư Dung.

Đầm Cầu Hai trổ ra biển bằng cửa Tư Hiền, nơi mùa Hạ 1306 công chúa Huyền Trân đã từ biệt Đại Việt về làm vợ Quốc vương Chiêm Thành Chế Mân. Ảnh: Lê Huy Hoàng Hải
Tương truyền, để an toàn trước khi về tới đất Chiêm Thành, đoàn thuyền của công chúa Huyền Trân đã có một quãng dài xuyên qua phá Tam Giang và đầm Cầu Hai ngày nay. Nơi đầm Cầu Hai thông ra biển chính là cửa bể này thuộc đất Champa và đoàn thuyền của Quốc vương Chế Mân ra đón nàng công chúa Đại Việt. Đó cũng là thời điểm công chúa cúi đầu lạy tạ từ cố xứ mà sau này, trong trường ca “Trên đường cái quan” nhạc sĩ Phạm Duy đã viết trong chương “Qua miền Trung”: “Ngó ra quê cha đường xa sông rộng, ngó về quê mẹ gió lộng đèo cao”. Sau cuộc chia ly vì đại cuộc của Huyền Trân, cửa bể được mang tên Tư Dung. Có nhiều cách giải thích về tên gọi này, nhưng tựu trung vẫn là nỗi nhớ (Tư) người con gái đẹp (Dung) đã hy sinh tình riêng cho trăm họ an vui, quốc gia rộng thêm bờ cõi.
Cửa bể Tư Dung đến thế kỷ 19 được đổi tên thành Tư Hiền và tên gọi ấy còn đến hôm nay. Từ hai châu Ô, Lý thành châu Thuận và châu Hóa, từ Tư Dung thành Tư Hiền… chỉ là những câu chuyện nhỏ của biến dịch ngàn năm lịch sử, nhưng huyền sử của nàng công chúa Huyền Trân thì vẫn còn mãi giữa đời dân.
Ngày Huyền Trân xuống thuyền, từ biệt Thăng Long được sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi ở quyển 8: “Bính Ngọ, năm thứ 14 (1306). (Nguyên, năm Đại Đức thứ 10). Tháng 6, mùa Hạ. Gả Huyền Trân công chúa cho chúa Chiêm Thành là Chế Mân, Chế Mân đem dâng đất châu Ô và châu Lý. Trước đây, Thượng hoàng đi du lịch đến một địa phương, nhân tiện sang chơi Chiêm Thành, hẹn gả con gái cho chúa Chiêm. Sau Chế Mân sai bầy tôi là bọn Chế Bồ Đài đệ tờ biểu dâng vàng, bạc, kỳ hương và các phẩm vật lạ để xin cưới. Quần thần trong triều đều nói là không nên gả, chỉ có Văn Túc vương Đạo Tái chủ trương nên gả, và Trần Khắc Chung tán thành. Chế Mân lại xin đem châu Ô, châu Lý để làm lễ cưới, lúc ấy ý vua mới quả quyết cho Huyền Trân công chúa về với vua Chiêm.
Tháng 9, mùa Thu. Nước to. Sứ thần Chiêm Thành sang nước ta. Chúa Chiêm là Chế Mân mất, thế tử là Chế Đa Gia sai bầy tôi là Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng và báo cáo tin buồn.
Tháng 10, mùa Đông. Hạ lệnh cho Hành khiển Trần Khắc Chung sang Chiêm Thành, đưa Huyền Trân công chúa về nước. Theo tục Chiêm Thành, mỗi khi chúa trong nước mất, thì vợ chúa phải lên đàn thiêu để chết theo. Nhà vua được tin đó, sai Trần Khắc Chung mượn cớ sang thăm, và nói rằng: “Công chúa hỏa táng thì không có ai làm chủ đàn chay, chi bằng công chúa ra ngoài bãi biển chiêu hồn chúa công cùng về, lúc ấy sẽ lên đàn thiêu là tiện hơn cả”. Người Chiêm Thành nhận lời. Khi đã ra ngoài biển rồi, Khắc Chung dùng chiếc thuyền nhỏ cướp lấy công chúa đưa về".
Chỉ mấy dòng như thế trong trang sử cũ nhưng bao nhiêu nỗi niềm còn âm vang qua điệp trùng ngày tháng. Sau đám cưới của mùa Hạ 1306, những đoàn người Việt Nam tiến mới thực sự “danh chính ngôn thuận” là chủ nhân của vùng đất sính lễ này.
“Nước non ngàn dặm ra đi…”
Tôi đã đi qua rất nhiều ngôi làng cổ của Quảng Trị (cũ) và Huế, gặp các bậc hào lão trưởng thượng đều nhắc đến cột mốc lập làng của quê hương mình hầu hết đều từ đầu thế kỷ 14, nghĩa là từ cái mốc 1306 - Bính Ngọ. Những lưu dân miền Thanh Nghệ, xa hơn có cả từ châu thổ sông Hồng đã vào miền Ô Lý, lập làng dựng ấp, sống hòa hiếu với những cư dân bản địa. Họ mang theo tiếng nói, phong tục, tín ngưỡng, nghề nông và cả những đức tin mộc mạc, để giờ đây trong nhiều cuộc khai quật khảo cổ có thể thấy bóng dáng những đền tháp Champa và cột đá chùa Việt cạnh nhau!
Hai châu Ô Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu rồi thành Quảng Trị, Huế hôm nay. Từ một vùng đất sính lễ, Ô Lý xa xưa đã trở thành vùng đất chiến lược và sâu dày những tầng nấc văn hóa. Khi Ô Lý về với Đại Việt, đâu thể ngờ vài thế kỷ sau, vùng Thuận Hóa - Phú Xuân trở thành kinh đô của nhà Nguyễn, kéo dài hơn 200 năm và bây giờ là cố đô - di sản văn hóa thế giới. Cũng không thể ngờ vùng đất ấy sau này trở thành nơi chia đôi đất nước, nơi chứng kiến những trận đánh khốc liệt nhất của thế kỷ 20.
Chọn sính lễ để mở rộng bờ cõi giang san là chuyện lớn, nhưng đám cưới Huyền Trân mang lại cho giang san Đại Việt, không chỉ là vài vạn dặm vuông đất đai rộng dài trời bể. Đám cưới ấy đã góp phần giữ cho vùng phên giậu phía Nam của Đại Việt êm thuận, hòa bình. Lần giở trong sử cũ, cái miền đất Ô Lý này kể từ khi Lý Thường Kiệt và cuộc Nam tiến đầu tiên năm 1069 cho đến khi trở thành sính lễ cưới Huyền Trân năm 1306, hiếm khi nào vắng những cuộc giao tranh trong gần ba thế kỷ kia. Nó chỉ bình yên khi sau bước chân của Huyền Trân về đến đất Chiêm - và sau này thành châu Thuận, châu Hóa của đất Đại Việt.
Những gì mà miền đất sính lễ của Huyền Trân góp vào trong cái gia tài của giang sơn Đại Việt hẳn khó mà kể hết, không chỉ là vị trí chiến lược của đèo Hải Vân, những điệu ca có từ sau cuộc tình Ô Lý hay chuyện hòa hiếu cho xã tắc. Từ cái phên giậu này, cương vực Đại Việt tiến dần về phương Nam. Dĩ nhiên trước đó còn là bao nhiêu máu xương của hàng vạn con dân đất Việt.
Ngày công chúa Huyền Trân cất bước xuống thuyền từ biệt Thăng Long là mùa Hạ năm Bính Ngọ, 1306.
Và năm nay, Bính Ngọ, 2026.
Bảy trăm hai mươi năm, hơn bảy thế kỷ trôi qua, bản đồ đất nước nhiều lần được vẽ lại, giang sơn đã nhiều cuộc được tiền nhân sắp xếp đổi dời, nhiều địa danh đã thay thế bằng tên gọi khác…Nhưng có những điều không hề phai mờ: hình bóng một người con gái Đại Việt đã lặng lẽ bước qua số phận của mình để mở lối cho giang san. Không chỉ là bờ cõi rộng thêm, mà một mạch nguồn văn hóa khác được nhen nhóm, bằng sự hy sinh và cả nỗi niềm thân phận, thấm vào từng làn điệu, từng phách nhịp của miền Thuận Hóa để ra đời khúc ca Nam bình.
Bây giờ, đêm đêm trên dòng Hương giang với ký ức kinh đô, du khách vẫn nghe được dư âm của một cuộc tiễn đưa, một lời từ biệt, một nỗi nhớ nước non lặng thầm suốt bảy thế kỷ vĩnh cửu trong những bước chân son “nước non ngàn dặm ra đi” vì đại cuộc.
Từ hai châu Ô, Lý ngày ấy, người Việt đã tiếp tục hành trình mở cõi bằng những cuộc ra đi trong lặng lẽ hy sinh, bằng một cuộc hòa giải giữa đất và người, giữa quá khứ và tương lai. Và Bính Ngọ 2026 này không thể không nhớ về Bính Ngọ năm 1306 ấy, không thể không lắng nghe bao nhiêu nỗi niềm còn vang vọng Huyền Trân!






























