Từ bản vùng lũ đến 'điểm sáng' thoát nghèo
Bản Sa Ná, xã biên giới Na Mèo, từng tan hoang sau cơn bão lũ. Thế nhưng, bằng sự chung tay của các cấp, ngành; sự đồng lòng của bà con Nhân dân và sự tương trợ đến từ các chương trình, chính sách... một Sa Ná với diện mạo mới đã và đang hiện hữu.

Bà con bản Sa Ná thu hoạch nứa, vầu.
Bản vùng lũ trở mình
Tôi ngược bản Sa Ná, một bản vùng lũ từng gánh chịu nhiều đau thương. Những ngày ấy, ở Sa Ná, nỗi hoang mang còn lớn hơn cả những mất mát vật chất. Bà con trắng tay sau lũ, sinh kế chưa thể định hình, tương lai mờ mịt. Trong bối cảnh đó, nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã trở thành “phao cứu sinh” giúp người dân tái thiết cuộc sống. Theo thống kê của Phòng Giao dịch NHCSXH Quan Sơn, ngay sau lũ, hàng chục hộ dân Sa Ná đã được khoanh nợ, cho vay mới. Đây là bước đi cần thiết để người dân ổn định tâm lý, tháo gỡ áp lực trước mắt. Sự kịp thời ấy đã mở ra một hướng đi mới. Nhiều hộ dân Sa Ná mạnh dạn đầu tư trở lại, bắt đầu từ chính những gì quen thuộc nhất, từ rừng luồng, đàn trâu bò, gà vịt... Mảnh đất tưởng như kiệt quệ sau thiên tai bắt đầu hồi sinh từ những mô hình nhỏ nhưng chắc chắn.
Trong căn nhà sàn mới dựng bên triền suối, chị Vi Thị Cư, bản Sa Ná vẫn nhớ như in ngày cả gia đình mất trắng. Trận lũ cuốn đi toàn bộ nhà cửa, vật nuôi, và cả khoản vay 60 triệu đồng để chăn nuôi lợn, gà. Tưởng chừng không thể gượng dậy, nhưng nhờ được khoanh nợ và hỗ trợ vay thêm 100 triệu đồng từ ngân hàng, chị dồn toàn bộ vào việc mua trâu, bò và phục tráng hơn 2ha đồi luồng bị suy kiệt. “Từ lúc trồng lại luồng đến khi có thu hoạch cũng phải mất vài năm. Nhưng mình nghĩ, cứ nỗ lực làm, rồi trời cũng thương”, chị Cư chia sẻ. Với sự chăm chỉ, đàn trâu, bò của gia đình chị hiện đã có 12 con, diện tích luồng cho thu hoạch đều mỗi năm. Gia đình chị chính thức thoát nghèo, cuộc sống ổn định.
Cách nhà chị Cư không xa, gia đình anh Lò Văn Đông cũng là một trong những hộ “bứt phá” từ nguồn vốn tín dụng chính sách. Nhận khoản vay 100 triệu đồng sau lũ, anh đầu tư phục tráng 4,6ha rừng luồng, tận dụng tán luồng để nuôi trâu bò. Chỉ hai năm sau, rừng hồi sinh, đàn gia súc sinh sôi, kinh tế gia đình anh chuyển sang một trang mới vững vàng và bền vững hơn trước.
Không riêng chị Cư, anh Đông, ở Sa Ná ngày càng có nhiều câu chuyện như vậy. Dư nợ toàn bản hiện đạt gần 3 tỷ đồng, với hơn 30 hộ vay phát triển kinh tế. Trong số đó, mô hình nuôi nhím của gia đình bà Ngân Thị Suối là điểm nhấn đáng chú ý. Nhờ tiếp cận kịp thời nguồn vốn vay và được hướng dẫn kỹ thuật, đàn nhím sinh sản tốt, đem về cho bà nguồn thu hàng chục triệu đồng mỗi lứa, mở hướng chăn nuôi con đặc sản mới đến với nhiều hộ dân khác...
Khi chính sách "chạm" nhu cầu
Vốn vay chỉ là một phần, điều tạo nên sức bật lớn cho bản Sa Ná còn đến từ những chương trình hỗ trợ sinh kế từ các chương trình, dự án của Chính phủ, của tỉnh. Một trong những mô hình tạo dấu ấn mạnh mẽ là “Nông nghiệp dinh dưỡng” thuộc Chương trình hành động “Không còn nạn đói ở Việt Nam đến năm 2025”. Chỉ riêng tại Sa Ná, chương trình đã hỗ trợ 4.590 con gà ri giống; 3.390kg thức ăn hỗn hợp, hàng vạn liều vắc-xin và hóa chất khử trùng cho các hộ nghèo, cận nghèo.
Nguồn hỗ trợ này không chỉ cung cấp sinh kế mới, mà còn giúp bà con thay đổi tư duy sản xuất. Việc nuôi gà theo hướng an toàn sinh học, sử dụng vắc-xin đúng quy trình, quản lý đàn khoa học... đã trở thành thói quen ở nhiều hộ. Nhờ vậy, dịch bệnh được kiểm soát, tỷ lệ hao hụt giảm rõ rệt, thu nhập từ chăn nuôi tăng lên. Ông Ngân Văn Thêu, trưởng bản Sa Ná, cho biết: “Nếu không có sự chung tay của Nhà nước; các chương trình hỗ trợ sinh kế, cũng như nguồn vốn tín dụng ưu đãi, Sa Ná khó có được diện mạo như hôm nay. Bà con được hỗ trợ kịp thời, lại biết cố gắng, nên kinh tế bản thay đổi toàn diện”. Theo ông Thêu nhẩm tính, thu nhập bình quân của người dân hiện đạt 34 triệu đồng/năm; Sa Ná đã hoàn thành tiêu chí bản NTM kiểu mẫu, người dân có sự đổi thay trong suy nghĩ, nếp làm. Từ chỗ trông chờ, e dè trong đầu tư phát triển kinh tế, giờ đây bà con dám làm, dám đầu tư, dám bứt lên khỏi nghèo khó.
Ông Lương Văn Thủy, Chủ tịch UBND xã Na Mèo, cho biết: Không chỉ riêng Sa Ná đổi thay, mà xã vùng biên Na Mèo cũng đang có sự chuyển mình đáng kể. Xã biên giới Na Mèo với nhiều người từng là cái tên gợi lên sự trăn trở. Cả một vùng đất sát biên, dân cư phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí còn thấp, điều kiện sản xuất hạn chế, giao thông khó khăn... Những năm trước, nơi đây được xem như “điểm nghẽn” trong bức tranh phát triển của huyện Quan Sơn cũ. Thế nhưng, nhờ các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình giảm nghèo bền vững tiếp tục được triển khai, cùng với những mô hình kinh tế dựa vào rừng, chăn nuôi trâu bò, phát triển cây luồng; nhiều bản làng được đầu tư hạ tầng, đời sống văn hóa giữ được bản sắc nhưng ngày càng văn minh, hiện đại.
Cũng theo ông Thủy, một trong những lợi thế lớn nhất của Na Mèo chính là vị trí cửa khẩu quốc tế - điểm trung chuyển giao thương giữa Thanh Hóa và tỉnh Hủa Phăn (Lào). Những năm gần đây, lượng hàng hóa qua lại ổn định đã tạo điều kiện mở rộng các loại hình dịch vụ, vận chuyển hàng hóa, lưu trú và thương mại biên mậu. Đây cũng là động lực để xã định hướng phát triển dịch vụ, du lịch, gắn với tuyến du lịch Na Mèo - Viêng Xay; cũng như Na Mèo đi bản Sa Ná, đi các bản người Mông... Với điểm tựa là các chính sách đúng và trúng, cộng với nội lực của chính người dân, bản vùng lũ Sa Ná nói riêng, xã vùng biên Na Mèo nói chung đang trở thành “điểm sáng” thoát nghèo của miền Tây xứ Thanh.




























