Tranh luận vụ chuyển nhầm 450 triệu, bị ngân hàng cấn trừ vì người nhận nợ tín dụng
Các chuyên gia có ý kiến pháp lý khác nhau về phán quyết của tòa vụ chuyển nhầm 450 triệu đồng, bị ngân hàng cấn trừ vì người nhận nợ tín dụng.
Số trước, Pháp Luật TP.HCM có bài viết "Trớ trêu: Chuyển nhầm 450 triệu, bị ngân hàng cấn trừ vì người nhận nợ tín dụng".
Để rộng đường dư luận, số này, chúng tôi xin ghi nhận ý kiến của các chuyên gia pháp lý.
TS-LS NGUYỄN THỊ KIM VINH, nguyên Thẩm phán TAND Tối cao:
Tòa sơ thẩm xác định ngân hàng là bị đơn là phù hợp
Theo khoản 3 Điều 68 BLTTDS, bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện.
Khoản 4 Điều 68 BLTTDS quy định: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

TS-LS Nguyễn Thị Kim Vinh
Tại khoản 1 Điều 5 BLTTDS cũng quy định, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
Có thể thấy, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của bị đơn sẽ được tòa án căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; còn việc xác định tư cách tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sẽ được tòa án căn cứ vào quá trình giải quyết vụ án và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, tòa sơ thẩm xác định ngân hàng B là bị đơn theo đơn khởi kiện của ông Quỳnh; ông V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.
Tuy nhiên, nội dung bản án phúc thẩm nêu "tòa sơ thẩm xác định ngân hàng là bị đơn, ông V là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chưa chính xác, cần xác định lại tư cách tố tụng của đương sự. Việc xác định lại tư cách tố tụng của đương sự không làm thay đổi bản chất đường lối giải quyết vụ án" là chưa phù hợp.
Bởi, sau khi ông Quỳnh chuyển tiền nhầm vào tài khoản của ông V, ngân hàng B đã trích thu tự động số tiền 120 triệu đồng, ngân hàng A cũng đã có văn bản gửi đến ngân hàng B hỗ trợ hoàn tiền do chuyển nhầm.
Có căn cứ xác định số tiền nêu trên là tài sản của ông Quỳnh. Ông Quỳnh hoàn toàn có quyền xác định ngân hàng B (bên đang chiếm dụng tài sản của ông) là bị đơn và yêu cầu tòa án xác định ông V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt của đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 5 BLTTDS.
Trong trường hợp này, ông Quỳnh có thể nộp đơn đề nghị giám đốc thẩm theo điểm b Khoản 1 Điều 326 BLTTDS, khi cho rằng cấp phúc thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật.
ThS LÊ HOÀI NAM, giảng viên Khoa Luật, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM:
Cần hủy án sơ thẩm để giải quyết lại
Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều khẳng định việc ông Quỳnh chuyển nhầm 450 triệu đồng sang tài khoản của ông V là có cơ sở và ông Quỳnh có quyền đòi lại số tiền này.
Tuy nhiên, vấn đề pháp lý đang gây tranh cãi đó là Tòa án áp dụng luật hình thức (quy định của tố tụng dân sự) để xác định tư cách tham gia tố tụng của ông V và ngân hàng B có sự nhầm lẫn.
Rõ ràng, việc xác định tư cách đương sự sai này xuất phát từ chính Tòa án sơ thẩm, chứ không phải lỗi của phía ông Quỳnh. Và nếu có xác định lại đúng tư cách tố tụng, tức là bị đơn phải là ông V và ngân hàng B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì cũng không làm thay đổi bản chất đường lối giải quyết của vụ án.
Do đó, HĐXX áp dụng Điều 308 và Điều 309 BLTTDS để sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quỳnh là không hợp lý.

ThS Lê Hoài Nam
Bởi lẽ, nguyên tắc xét xử ở giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm là không được vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu của đương sự.
Ở giai đoạn sơ thẩm, ông Quỳnh khởi kiện yêu cầu ngân hàng trả lại 120 triệu đồng và ông V trả lại 330 triệu đồng. Theo Điều 188 BLTTDS, phạm vi khởi kiện được xác định dựa theo chủ thể tranh chấp và quan hệ tranh chấp.
Theo quy định tại Điều 293 BLTTDS, HĐXX phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản án bị kháng cáo hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo. Nếu tại giai đoạn phúc thẩm xác định ngân hàng B không phải là người bị kiện, tức ngân hàng không có nghĩa vụ phải hoàn trả 120 triệu đồng, nên cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ngân hàng là hợp lý.
Nhưng việc tuyên không chấp nhận yêu cầu buộc ông V trả 330 triệu đồng lại không hợp lý. Như đã phân tích trên, khi ông V thay đổi tư cách từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sang bị đơn, bản chất nghĩa vụ phải trả 450 triệu đồng với ông Quỳnh là đương nhiên.
Theo nhận định của HĐXX và VKS, việc xác định tư cách tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm không đúng. Việc sai thủ tục tố tụng này về nguyên tắc sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. HĐXX phải hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho tòa sơ thẩm giải quyết lại theo Khoản 2 Điều 310 BLTTDS.
Theo diễn tiến vụ án, ông Quỳnh đã nộp đơn khởi kiện lại, lúc này ông V là bị đơn, ngân hàng B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tòa án hai cấp đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do vụ án đã được giải quyết bằng bản án theo điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS.
Việc đình chỉ giải quyết trong trường hợp này không đúng tinh thần về việc khởi kiện lại. Theo Điều 188 BLTTDS, ông Quỳnh đưa ra một yêu cầu khởi kiện mới, cụ thể là kiện ông V (thay vì kiện ngân hàng B); bản chất khác nhau về chủ thể bị kiện nên không được xem là khởi kiện lại cùng đối tượng như quan điểm của tòa án đã ra quyết định đình chỉ.
ThS NGUYỄN ĐỨC HIẾU, giảng viên Trường ĐH Quốc tế, ĐHQG TP.HCM:
Người nhận tiền chuyển nhầm có nghĩa vụ hoàn trả
Theo nguyên tắc của pháp luật dân sự, việc chuyển nhầm không làm phát sinh quyền sở hữu đối với người nhận, bởi quyền sở hữu chỉ được xác lập trên các căn cứ do pháp luật quy định như giao dịch dân sự hợp pháp, lao động tạo ra tài sản, chiếm hữu tài sản vô chủ hoặc không xác định được chủ sở hữu... theo Điều 221 BLDS.
Về mặt pháp lý, số tiền này vẫn thuộc quyền sở hữu của người chuyển. Người nhận chỉ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật và có nghĩa vụ hoàn trả theo Điều 579 BLDS.

ThS Nguyễn Đức Hiếu
Ngân hàng B sử dụng số tiền này nhằm cấn trừ nợ tín dụng không làm thay đổi bản chất pháp lý của tài sản.
Việc cấn trừ chỉ có thể thực hiện hợp pháp khi tài sản dùng để cấn trừ thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người có nghĩa vụ trả nợ.
Việc dùng tài sản của người khác để thanh toán nghĩa vụ nợ không chỉ xâm phạm quyền sở hữu của chủ tài sản mà còn có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý đối với người nhận tiền và cả các chủ thể liên quan.
Ngân hàng B cho rằng việc cấn trừ nợ là hoạt động tự động, theo hợp đồng đã ký với khách hàng; ngân hàng không thể tự ý can thiệp vào tài khoản nếu không có yêu cầu từ chủ tài khoản... Song cần nhìn nhận ngân hàng không đơn thuần là một chủ thể trung gian thụ động mà là đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán, quản lý tài khoản và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định chuyên ngành về an toàn, minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng.
Khi phát sinh thông tin về việc chuyển nhầm tiền, đặc biệt khi có yêu cầu tra soát từ phía người chuyển, ngân hàng có nghĩa vụ phối hợp xử lý và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để ngăn ngừa hậu quả pháp lý phát sinh.
Không thể cấn trừ "ngầm"
Theo quy định của BLDS, việc một cá nhân nhận được tiền do người khác chuyển nhầm làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tài sản do chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật. Trách nhiệm của ngân hàng chỉ phát sinh nếu có lỗi nghiệp vụ, sai sót kỹ thuật hoặc vi phạm quy định trong quá trình xử lý giao dịch.
Một điểm gây tranh cãi là việc người nhận tiền chuyển nhầm đang nợ thẻ tín dụng. Trên thực tế, đây là hai quan hệ pháp luật hoàn toàn độc lập. Khoản nợ thẻ tín dụng là nghĩa vụ tài chính giữa người vay và ngân hàng. Trong khi đó, số tiền chuyển nhầm là tài sản hợp pháp của người chuyển tiền. Pháp luật không cho phép việc "cấn trừ ngầm" nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản của người thứ ba nếu không có căn cứ pháp luật rõ ràng.
Luật sư Mai Thị Thảo.
Theo nguyên tắc chung của tố tụng dân sự, khi phát hiện sai sót nghiêm trọng trong việc xác định bị đơn, tòa án cần sửa án hoặc hủy án để xét xử lại, qua đó xác định đúng tư cách tham gia tố tụng và bảo đảm quyền khởi kiện thực chất của người dân. Việc chấp nhận kháng cáo của ngân hàng nhưng không sửa án, không hủy án và cũng không tạo cơ chế để nguyên đơn được "đi tiếp" trên con đường pháp lý, đẩy toàn bộ rủi ro sang người chuyển nhầm tiền.
Hệ quả là sau nhiều năm theo đuổi vụ kiện, tranh chấp vẫn không được giải quyết đến tận cùng, trong khi người nhận tiền chuyển nhầm lại tiếp tục hưởng lợi từ việc chiếm giữ khoản tiền không thuộc về mình. Đây là điều đi ngược lại tinh thần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong tố tụng dân sự.
Vụ việc này cũng đặt ra yêu cầu cần có hướng dẫn xét xử thống nhất hoặc phát triển án lệ đối với các tranh chấp chuyển nhầm tiền. Pháp luật cần bảo đảm một nguyên tắc người chuyển nhầm không thể trở thành bên chịu thiệt chỉ vì sự chồng chéo giữa các quan hệ pháp lý.
Luật sư MAI THỊ THẢO, Đoàn Luật sư Hà Nội





























