Tổ chức lại vùng nguyên liệu cho ngành gỗ
Thái Nguyên có lợi thế lớn về tài nguyên rừng và đang từng bước hình thành ngành chế biến gỗ theo hướng công nghiệp, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người trồng rừng và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, nghịch lý đang đặt ra là rừng có, gỗ có nhưng nguồn nguyên liệu ổn định cho các cơ sở chế biến lại chưa thực sự bền vững. Nếu không sớm hình thành được chuỗi liên kết từ trồng rừng, khai thác, thu mua, chế biến đến tiêu thụ, ngành gỗ khó nâng cao giá trị và sức cạnh tranh.

Ngành chế biến gỗ tại Thái Nguyên có nhiều dư địa phát triển, góp phần nâng cao giá trị lâm sản và tạo việc làm, thu nhập ổn định cho người dân địa phương
Từ lợi thế rừng đến giá trị kinh tế
Gỗ được xác định là một trong những sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Thái Nguyên. Những năm gần đây, kinh tế lâm nghiệp của tỉnh có bước phát triển khá, diện tích rừng trồng và sản lượng gỗ khai thác liên tục tăng.
Theo số liệu thống kê, năm 2024, sản lượng gỗ khai thác của Thái Nguyên đạt khoảng 811.900m3, tăng mạnh so với mức 675.900m3 năm 2023. Năm 2025, sau khi tỉnh Thái Nguyên mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất Thái Nguyên và Bắc Kạn, sản lượng khai thác gỗ đạt khoảng 705.000m3; trong đó riêng khu vực phía Bắc của tỉnh có trên 100.000ha rừng trồng, sản lượng khai thác bình quân khoảng 311.000m3/năm.
Từ đầu năm tới nay, ngành lâm nghiệp tiếp tục cho thấy dư địa phát triển lớn. Toàn tỉnh trồng được 8.153ha rừng tập trung, vượt 18% kế hoạch năm; trên 1,57 triệu cây phân tán được trồng, đạt 105% kế hoạch. Đặc biệt, sản lượng gỗ khai thác đạt trên 640.000m3, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt 7.664ha.

Mở rộng diện tích rừng FSC, rừng gỗ lớn góp phần nâng cao chất lượng nguyên liệu và hiệu quả kinh tế ngành chế biến gỗ.
Những con số này cho thấy tài nguyên rừng đang trở thành một nguồn lực kinh tế quan trọng. Giai đoạn 2021-2025, giá trị sản xuất lâm nghiệp của tỉnh tăng bình quân khoảng 6,5%/năm; đến năm 2026, diện tích rừng trồng mới lũy kế gần 40.000ha, diện tích rừng có chứng chỉ FSC trên 42.000ha và diện tích rừng gỗ lớn cũng khoảng 42.000 ha.
Không chỉ cung cấp nguyên liệu, rừng còn trực tiếp tạo sinh kế. Tại nhiều địa phương, cây keo sau chu kỳ 5-6 năm có thể đem lại cho người dân 100-120 triệu đồng/ha; nếu được chăm sóc tốt và khai thác sau 7-8 năm, giá trị có thể vượt 170 triệu đồng/ha.
Cùng với vùng nguyên liệu, hệ thống chế biến cũng ngày càng mở rộng. Hiện Thái Nguyên có trên 800 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế biến gỗ. Nhiều sản phẩm như: Ván dán, đũa gỗ, đồ gỗ dùng một lần… đã tham gia chuỗi xuất khẩu sang Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia. Ngành chế biến gỗ tạo việc làm cho hàng nghìn lao động nông thôn, với thu nhập phổ biến 6-15 triệu đồng/người/tháng.
Một số cơ sở chế biến đã đầu tư theo hướng nâng cao giá trị thay vì chỉ bán gỗ nguyên liệu. Hầu hết các cơ sở chế biến gỗ đều tận dụng cả gốc, rễ, đầu mẩu, lá ngọn của cây gỗ, giúp giá trị kinh tế cao hơn khoảng 1,5 lần so với bán cây tại rừng.
Từ lợi thế về diện tích rừng, sản lượng khai thác đến hệ thống chế biến, Thái Nguyên đã có những điều kiện quan trọng để phát triển ngành gỗ. Tuy nhiên, để lợi thế này thực sự chuyển thành giá trị cao hơn, bài toán đầu vào ổn định vẫn cần được giải quyết.
“Nút thắt” nằm ở vùng nguyên liệu
Dù tiềm năng lớn, nguồn nguyên liệu cho chế biến gỗ vẫn chưa thật sự ổn định. Tại một số vùng sản xuất, tình trạng người dân khai thác và bán gỗ theo nhu cầu trước mắt khiến doanh nghiệp khó chủ động kế hoạch sản xuất.
Ông Bùi Văn Lạc, Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Lộc Thịnh (xã Phú Thịnh), cho biết: Doanh nghiệp thường xuyên gặp tình trạng bất ổn về nguồn nguyên liệu, lúc thiếu, lúc thừa. Công ty trung bình tiêu thụ khoảng 1.200 tấn gỗ nguyên liệu/tháng, sản xuất khoảng 300m3 gỗ xẻ và nan, nẹp mỗi tháng. Khi nguồn cung thiếu, giá gỗ tăng. Cụ thể, hiện Công ty đang phải thu mua 1,9 triệu đồng/tấn gỗ, trong khi những tháng đầu năm gỗ có giá chỉ 1,3 triệu đồng/tấn.

Thái Nguyên hiện có trên 800 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế biến gỗ, từng bước hình thành hệ thống sản xuất, chế biến lâm sản với quy mô ngày càng đa dạng.
Đáng chú ý, nguyên liệu cho sản xuất gỗ xẻ đòi hỏi chất lượng cao hơn so với nguyên liệu băm dăm. Trong khi đó, một bộ phận người dân vẫn có xu hướng khai thác keo khi cây chưa đạt tuổi, thậm chí có diện tích chỉ khoảng 4 năm đã đưa vào khai thác. Điều này làm giảm chất lượng gỗ, đồng thời khiến chu kỳ nguyên liệu bị rút ngắn, hiệu quả kinh tế vì thế cũng không cao.
Tình trạng đó cũng được cơ quan quản lý nhìn nhận. Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 5/5/2026 của Chủ tịch UBND tỉnh chỉ rõ phần lớn cơ sở chế biến gỗ còn nhỏ lẻ; việc chấp hành quy định về đất đai, xây dựng, môi trường ở một số nơi chưa nghiêm; đặc biệt chưa hình thành được chuỗi liên kết hiệu quả giữa vùng nguyên liệu và chế biến.
Một vấn đề khác là cạnh tranh nguyên liệu không chỉ diễn ra giữa các cơ sở trong tỉnh. Theo ông Vũ Thế Cường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm số 12, các doanh nghiệp, cơ sở chế biến ở các địa phương lân cận cũng tìm đến những vùng rừng của Thái Nguyên để thu mua. Khi thị trường xuất khẩu biến động, giá gỗ thay đổi, người trồng rừng có xu hướng lựa chọn thời điểm bán có lợi nhất, khiến doanh nghiệp chế biến càng khó xây dựng kế hoạch dài hạn.
Trong khi đó, phần lớn gỗ khai thác hiện vẫn là gỗ nhỏ phục vụ dăm gỗ, nguyên liệu giấy, giá trị gia tăng chưa cao. Đây chính là “điểm nghẽn” nếu Thái Nguyên muốn chuyển từ phát triển kinh tế rừng theo chiều rộng sang nâng cao giá trị.
Thực trạng này cho thấy vấn đề của ngành gỗ không nằm ở việc thiếu tài nguyên rừng, mà ở khả năng tổ chức và khai thác nguồn nguyên liệu theo hướng ổn định, phù hợp với nhu cầu chế biến.
Nếu người trồng rừng vẫn chủ yếu quyết định thời điểm khai thác theo biến động giá, doanh nghiệp khó chủ động nguồn cung. Nếu phần lớn gỗ được khai thác ở tuổi ngắn để phục vụ dăm và nguyên liệu giấy, dư địa nâng cao giá trị từ rừng cũng bị hạn chế.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ quan hệ mua bán nguyên liệu ngắn hạn sang xây dựng vùng nguyên liệu có định hướng, có liên kết và đáp ứng được từng phân khúc chế biến.
Liên kết để nâng giá trị ngành gỗ
Giải pháp căn bản trước hết là quy hoạch lại vùng nguyên liệu gắn với nhu cầu của công nghiệp chế biến. Quy hoạch không nên chỉ dừng ở việc xác định diện tích rừng, mà cần xác định rõ từng vùng trồng phục vụ sản phẩm nào: gỗ nhỏ cho dăm, gỗ có đường kính lớn cho xẻ, ván ép, đồ nội thất; vùng rừng gỗ lớn và FSC phục vụ những đơn hàng xuất khẩu có yêu cầu cao.

Tận dụng gỗ băm và phụ phẩm giúp nâng cao giá trị nguyên liệu, tăng hiệu quả kinh tế trong chế biến gỗ.
Ông Lê Cẩm Long, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho rằng: Thái Nguyên cần tiếp tục mở rộng diện tích rừng gỗ lớn, thâm canh rừng và chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn. Đây cũng là định hướng ngành Kiểm lâm đang triển khai. Cùng với đó, cần coi chứng chỉ FSC và truy xuất nguồn gốc là một phần của chiến lược phát triển ngành gỗ, thay vì chỉ là yêu cầu của một số thị trường. Khi có vùng nguyên liệu được quản lý bền vững, doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong đàm phán đơn hàng, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Điều quan trọng hơn cả là thay đổi quan hệ giữa người trồng rừng và doanh nghiệp chế biến từ mua bán ngắn hạn sang liên kết dài hạn. Doanh nghiệp cần ký hợp đồng bao tiêu với hộ dân, hợp tác xã; hỗ trợ cây giống chất lượng, kỹ thuật trồng và chăm sóc; ứng trước một phần vật tư hoặc vốn khi cần thiết.
Đổi lại, người dân cam kết tuân thủ chu kỳ khai thác, tiêu chuẩn nguyên liệu và bán sản phẩm cho doanh nghiệp theo hợp đồng.
Các hợp tác xã lâm nghiệp có thể trở thành “mắt xích” quan trọng, tập hợp diện tích rừng nhỏ lẻ của hàng trăm hộ thành vùng nguyên liệu đủ lớn. Chính quyền địa phương cần hỗ trợ xây dựng bản đồ số vùng rừng, cập nhật tuổi rừng, giống cây, thời điểm khai thác và sản lượng dự kiến.
Khi doanh nghiệp biết trước 1-2 năm tới vùng nguyên liệu có bao nhiêu gỗ, chủng loại gì, chất lượng ra sao, bài toán đầu vào sẽ được giải quyết căn bản.

Diện tích rừng trồng theo tiêu chuẩn FSC ở xóm Vân Hán, xã Văn Hán. Ảnh: T.L
Bên cạnh đó, cần phát triển hệ thống kho bãi, đường lâm nghiệp và các điểm tập kết gỗ tập trung. Đây là khâu rất thiết thực, bởi hiện nay nhiều cơ sở không đủ điều kiện dự trữ nguyên liệu. Khi mưa kéo dài hoặc bước vào mùa cấy, mùa gặt, lượng gỗ đưa ra thị trường giảm mạnh, doanh nghiệp lập tức thiếu nguyên liệu.
Có thể thấy, dư địa để các doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến sâu, sấy gỗ, xử lý gỗ và tận dụng phụ phẩm còn rất lớn. Việc nâng cao năng lực cho các cơ sở nhỏ, từng bước hình thành những doanh nghiệp, hợp tác xã đủ sức tham gia chuỗi cung ứng cũng mở thêm hướng phát triển mới cho ngành gỗ.
Cùng với đó, kết nối doanh nghiệp chế biến với các thị trường xuất khẩu sẽ tạo điều kiện để sản phẩm gỗ Thái Nguyên tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Thời gian qua, giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa của tỉnh tăng mạnh, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục tăng trưởng, tạo dư địa để các ngành chế biến dựa trên lợi thế nguyên liệu tại chỗ phát triển.
Với diện tích rừng lớn, sản lượng gỗ khai thác tăng, diện tích rừng FSC và rừng gỗ lớn ngày càng mở rộng cùng hệ thống hàng trăm cơ sở chế biến, ngành gỗ có nhiều điều kiện để hình thành chuỗi giá trị bền vững, trong đó sự liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, người trồng rừng và thị trường sẽ giúp phát huy tốt hơn lợi thế từ rừng, nâng cao giá trị kinh tế và sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Thái Nguyên.
Khi người trồng rừng yên tâm giữ rừng đến đúng tuổi, doanh nghiệp chủ động được nguồn nguyên liệu, cơ sở chế biến nâng cao chất lượng sản phẩm và thị trường ngày càng rộng mở, giá trị tạo ra từ mỗi héc-ta rừng sẽ được nâng lên.
Đây là hướng đi phù hợp để ngành chế biến gỗ Thái Nguyên phát triển bền vững, nâng cao sức cạnh tranh và đóng góp ngày càng lớn hơn cho kinh tế địa phương trong giai đoạn mới.


