Tìm 'thước đo' cho công nghiệp văn hóa
Công nghiệp văn hóa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng ở Việt Nam hiện nay, những câu hỏi như: Công nghiệp văn hóa đóng góp bao nhiêu % GDP; thu hút bao nhiêu doanh nghiệp, lao động; lĩnh vực nào đang đem lại lợi ích kinh tế cao; giá trị xuất, nhập khẩu thế nào?... đều chưa có câu trả lời chính xác...

Việc bóc tách du lịch văn hóa với du lịch nói chung còn gặp khó khăn nên cần có phương pháp để thực hiện. (Trong ảnh: Khách du lịch đến với Di tích Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội.)
Công nghiệp văn hóa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng ở Việt Nam hiện nay, những câu hỏi như: Công nghiệp văn hóa đóng góp bao nhiêu % GDP; thu hút bao nhiêu doanh nghiệp, lao động; lĩnh vực nào đang đem lại lợi ích kinh tế cao; giá trị xuất, nhập khẩu thế nào?... đều chưa có câu trả lời chính xác, dẫn đến những khó khăn trong xây dựng, ban hành chính sách. Việc xây dựng “dụng cụ đo lường” cho công nghiệp văn hóa là vấn đề đang đặt ra cấp thiết.
Các dữ liệu đều "ước chừng"
Công nghiệp văn hóa hiện được xem là động lực tăng trưởng mới của đất nước. Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 (Chính phủ ban hành tháng 11/2025) đưa ra mục tiêu đến năm 2030 công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP.
Một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 được đề cập như: Số lượng lao động, số lượng các cơ sở kinh tế trong công nghiệp văn hóa tăng bình quân 10%/năm; tốc độ tăng trưởng xuất khẩu công nghiệp văn hóa tăng bình quân 7%/năm…
Chiến lược cũng đưa ra chỉ tiêu cho từng ngành, thí dụ: Du lịch văn hóa chiếm 25% trong tổng thu từ du lịch; nghệ thuật biểu diễn có doanh thu 10,834 nghìn tỷ đồng… Các con số mục tiêu đến năm 2030 cũng được đề ra rất rõ ràng. Tuy nhiên, chúng ta lại chưa có con số tương tự ở “điểm xuất phát”.
Trong báo cáo kết quả kinh tế-xã hội Cục Thống kê công bố năm 2025, hay nửa đầu năm 2026, những thống kê về công nghiệp văn hóa hoàn toàn không xuất hiện.
Người ta chỉ có thể suy luận đóng góp của công nghiệp văn hóa từ những con số của các ngành du lịch, dịch vụ. Bất cập này đến từ việc Việt Nam chưa có công cụ thống kê các ngành công nghiệp văn hóa.
Nguyên nhân sâu xa hơn, đây là lĩnh vực mới mẻ với Việt Nam, một số lĩnh vực lại đan xen với các ngành kinh tế khác.
Điển hình như lĩnh vực thủ công mỹ nghệ thường gắn với hoạt động của các làng nghề, phố nghề, nhưng chỉ những cơ sở sản xuất mỹ nghệ mới được tính vào. Việc “bóc tách” hoạt động du lịch văn hóa với du lịch nói chung cũng rất khó khăn. Các con số thống kê về công nghiệp văn hóa lâu nay chỉ là ước chừng.
Chúng ta chưa có thống kê chính xác về tỷ lệ đóng góp của công nghiệp văn hóa trong GDP, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp văn hóa qua từng năm.
Càng đi vào chi tiết thì càng không thấy rõ ràng: Thí dụ như doanh nghiệp nào được coi là doanh nghiệp công nghiệp văn hóa? Có bao nhiêu doanh nghiệp, lao động hay ngành nào đem lại giá trị gia tăng mạnh nhất trong công nghiệp văn hóa? Bất cập này dẫn đến hàng loạt khó khăn khác.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thị Ngọc Quyên, Phó Viện trưởng Nghiên cứu sáng tạo (Trường đại học Ngoại thương Hà Nội) cho biết: “Đối với bất kỳ lĩnh vực nào trong nền kinh tế, chúng ta đều cần đưa ra các quyết định chính sách. Cơ sở để đưa ra chính sách chính là nguồn thông tin đầu vào.
Điều này được thể hiện qua các hệ thống chỉ số cho biết ngành, lĩnh vực đó đang phát triển như thế nào.
Hiện nay, dữ liệu về công nghiệp văn hóa phân tán ở nhiều cơ quan, thiếu tính đồng bộ, khó kết nối, so sánh; hệ thống phân loại, phương pháp thống kê và cơ chế chia sẻ dữ liệu chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý”.
Chính vì vậy, việc xây dựng bộ tiêu chí để “đo lường” các ngành công nghiệp văn hóa là vấn đề cấp thiết.
Tạo "thước đo" phù hợp chủ trương phát triển
Không chỉ các nước phương Tây, nhiều quốc gia châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… đã xây dựng được bộ tiêu chí thống kê, làm nền tảng cho các chính sách đưa công nghiệp văn hóa phát triển.
Định hướng phát triển văn hóa của mỗi nước khác nhau, cho nên có những quốc gia chú trọng yếu tố thị trường, xuất khẩu; có quốc gia chú trọng yếu tố sáng tạo, lực lượng lao động...
Do đó, chúng ta học hỏi kinh nghiệm quốc tế, nhất là yếu tố kỹ thuật và phương pháp, nhưng cần phải chắt lọc để xây dựng bộ tiêu chí phù hợp chủ trương phát triển văn hóa Việt Nam.
Định hướng phát triển văn hóa của mỗi nước khác nhau, cho nên có những quốc gia chú trọng yếu tố thị trường, xuất khẩu; có quốc gia chú trọng yếu tố sáng tạo, lực lượng lao động...
Tiến sĩ Phan Đăng Quyết, Hội Thống kê Việt Nam, cho biết: “Văn hóa vừa là ngành kinh tế sinh lợi, vừa là công cụ bảo tồn bản sắc và nâng cao giá trị tinh thần nhân dân. Nếu chỉ đo lường bằng các con số kinh tế, chính sách phát triển dễ dẫn đến xu hướng thương mại hóa. Nếu chỉ đo lường bằng các chỉ số như: Số di tích được xếp hạng, số bảo tàng…, văn hóa sẽ trở thành gánh nặng ngân sách. Chúng ta cần thiết lập một hệ thống thống kê cân bằng giữa đóng góp kinh tế và tác động thụ hưởng văn hóa-xã hội”.
Từ thực tiễn này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang chủ trì, phối hợp các bộ, ngành, địa phương triển khai hoàn thiện dự thảo “Bộ chỉ tiêu thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế”.
Dự thảo có 46 chỉ tiêu được chia thành các nhóm, bao gồm: Đóng góp kinh tế; lao động và nguồn nhân lực sáng tạo; sản phẩm và thị trường; chuyển đổi số và sở hữu trí tuệ; thương mại hóa; nguồn lực và năng lực phát triển.
Lần đầu tiên, Việt Nam sẽ áp dụng các phương pháp để làm rõ các con số như: Tỷ trọng giá trị tăng thêm của các ngành công nghiệp văn hóa trong GDP; tốc độ tăng giá trị tăng thêm, giá trị sản xuất của công nghiệp văn hóa; tỷ trọng giá trị sản xuất các ngành công nghiệp văn hóa... Về thị trường, chúng ta sẽ có thống kê cụ thể về mức chi tiêu của người dân cho các sản phẩm, dịch vụ văn hóa hay cán cân xuất, nhập khẩu công nghiệp văn hóa...
Đây sẽ là cơ sở quan trọng trong hoạch định chính sách. Hà Nội là một trong hai trung tâm công nghiệp văn hóa lớn nhất cả nước và là địa phương tiên phong xây dựng “Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa”.
Trên cơ sở dự thảo Bộ chỉ tiêu thống kê chung của cả nước, thành phố có bổ sung những vấn đề đặc thù, thí dụ việc Hà Nội là địa phương duy nhất có 11 ngành công nghiệp văn hóa (bổ sung ngành ẩm thực).
Bộ chỉ tiêu của Hà Nội có 95 chỉ tiêu cụ thể. Thành phố không chỉ thống kê khu vực chính thức mà còn đưa vào thống kê hoạt động của các khu vực kinh tế phi chính thức như nghệ sĩ tự do, nghệ nhân, hộ sản xuất cá thể - những chủ thể đang đóng góp đáng kể cho đời sống văn hóa nhưng chưa quan tâm đúng mức.
Hà Nội đang tích cực lấy ý kiến các cơ quan, các chuyên gia trong nước, quốc tế để sớm hoàn thiện Bộ chỉ tiêu.
Giáo sư Xiang Yong, Đại học Bắc Kinh cho rằng: “Hà Nội cần xây dựng hệ thống phân loại phù hợp điều kiện của Thủ đô, gắn kết các hoạt động văn hóa với hệ thống phân loại ngành công nghiệp của Việt Nam. Thành phố cần ưu tiên những lĩnh vực góp phần định hình bản sắc văn hóa quốc gia và phát huy các thế mạnh sáng tạo đặc trưng như múa rối nước, âm nhạc dân gian hay nghệ thuật sơn mài”.
Hà Nội đang tích cực lấy ý kiến các cơ quan, các chuyên gia trong nước, quốc tế để sớm hoàn thiện Bộ chỉ tiêu.
Trao đổi về vấn đề xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê, Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Trần Hoàng đánh giá: “Việc xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành công nghiệp văn hóa được triển khai theo tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển công nghiệp văn hóa. Trên cơ sở các khuyến nghị của UNESCO, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp cơ quan thống kê rà soát, chuẩn hóa khái niệm, xác định rõ các lĩnh vực và phân tổ thống kê để hình thành hệ thống chỉ tiêu thống nhất. Nếu Hà Nội triển khai thành công Bộ chỉ tiêu thống kê công nghiệp văn hóa, đây sẽ là mô hình tham khảo có giá trị cho các địa phương khác trên cả nước”.

































