Tiếp biến và sáng tạo văn hóa Việt Nam

Toàn cầu hóa và chuyển đổi số đang đặt Việt Nam trước những biến đổi mang tính sâu sắc, đòi hỏi tư duy mới, cách thức mới để giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Chủ động tiếp biến và xây dựng hệ sinh thái sáng tạo toàn diện là 'đòn bẩy' để chuyển hóa các giá trị truyền thống thành sức mạnh mềm quốc gia.

Biến “cú sốc văn hóa” thành động lực phát triển

Trong kỷ nguyên mới, giao thoa văn hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh và phức tạp khi được dẫn dắt bởi internet và mạng xã hội. Sự xê dịch của các luồng thông tin mang đến bức tranh văn hóa Việt Nam những gam màu rực rỡ, song cũng đặt ra không ít thách thức.

Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhìn nhận sâu sát thực tiễn này khi thẳng thắn chỉ ra “bốn khoảng trống” lớn cần được nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục. Trong đó, khoảng trống đầu tiên là “sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số”.

Các giá trị văn hóa cần được tái diễn giải phù hợp với cốt cách Việt Nam và bối cảnh xã hội đương đại. Ảnh: TH

Các giá trị văn hóa cần được tái diễn giải phù hợp với cốt cách Việt Nam và bối cảnh xã hội đương đại. Ảnh: TH

Với tầm nhìn chiến lược, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cảnh báo: “Khi không gian số ngày càng định hình nhận thức, thị hiếu và lối sống xã hội, khoảng trống này đặt ra thách thức đối với năng lực chuyển hóa vốn văn hóa dân tộc thành sức mạnh mềm và quyền dẫn dắt giá trị. Nếu không sớm khắc phục, các giá trị ngoại sinh sẽ ngày càng chiếm ưu thế, làm suy giảm sức hấp dẫn của văn hóa dân tộc và đặt ra thách thức mới đối với việc gìn giữ bản sắc, củng cố niềm tin và truyền thừa hệ giá trị Việt Nam”.

Từ góc độ chuyên môn học thuật, “khoảng trống” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề cập chính là môi trường làm nảy sinh các “cú sốc văn hóa”. PGS. TS. Phạm Duy Đức, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phân tích “cú sốc văn hóa” này không chỉ biểu hiện ở sự xung đột giá trị hay khủng hoảng nhận thức ở cấp độ cá nhân, mà còn cho thấy sự “lệch pha” giữa tốc độ biến đổi của môi trường văn hóa và năng lực thích ứng của con người.

Vấn đề cốt lõi là làm thế nào để biến thách thức thành cơ hội? Theo PGS. TS. Phạm Duy Đức, cơ chế trung tâm để giải quyết bài toán này chính là tiếp biến văn hóa. Đây không phải là sự tiếp nhận thụ động, mà là quá trình sàng lọc, tái cấu trúc các yếu tố ngoại sinh dựa trên nền tảng bản sắc nội sinh. Đứng trước sức ép của toàn cầu hóa, chúng ta cần xu hướng chuyển từ “xung đột” sang “dung hợp chọn lọc”. Thay vì từ chối hoàn toàn những giá trị mới, các giá trị này cần được tái diễn giải sao cho phù hợp với cốt cách Việt Nam và bối cảnh xã hội đương đại.

PGS. TS. Phạm Duy Đức chỉ ra: các ngành công nghiệp văn hóa (điện ảnh, âm nhạc, thời trang…) cần tiên phong trong quá trình bản địa hóa các yếu tố toàn cầu. Sự phát triển của các sản phẩm văn hóa mang chất liệu Việt Nam nhưng sử dụng ngôn ngữ biểu đạt hiện đại là minh chứng cho năng lực tiếp biến theo hướng sáng tạo, thay vì sao chép giản đơn.

Quá trình tiếp biến văn hóa không chỉ diễn ra ở cấp độ cá nhân, mà còn chịu tác động mạnh từ các thiết chế xã hội và chính sách công. Do đó, cần hoàn thiện chính sách văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số; tăng cường vai trò của các thiết chế văn hóa (gia đình, nhà trường, cộng đồng). Đặc biệt, cần chú trọng xây dựng các không gian đối thoại, tương tác… nhằm giảm thiểu xung đột và tăng cường hiểu biết liên văn hóa.

Đặt chủ thể sáng tạo vào trung tâm

Việc khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo, khả năng học hỏi liên văn hóa và ý thức gìn giữ bản sắc sẽ giúp con người Việt Nam không chỉ thích ứng mà còn tiếp biến để phát triển. Lời giải này đã nằm ở “ba chuyển dịch lớn” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị quán triệt, đặc biệt là “chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa không chỉ gìn giữ các giá trị truyền thống mà còn tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia”.

Phát triển văn hóa hiện nay cần đội ngũ sáng tạo, doanh nghiệp sáng tạo, thị trường, thiết chế trung gian, cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chính sách tài chính phù hợp và năng lực quản trị văn hóa trong môi trường số. Xây dựng hệ sinh thái văn hóa phải lấy chủ thể sáng tạo làm trung tâm, chú trọng nhiều hơn đến năng lực chủ thể và khả năng tham gia sáng tạo của con người trong đời sống văn hóa.

Chỉ ra như vậy, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương cho rằng, thiết chế văn hóa phải trở thành nơi bồi đắp năng lực văn hóa, trao cơ hội cho thanh thiếu niên, nghệ sĩ trẻ và các nhóm cộng đồng được trực tiếp thực hành và sáng tạo. Trong khi đó, việc mở rộng điều kiện tham gia của con người vào đời sống văn hóa cần được hiểu không chỉ là sự hiện diện trong hoạt động văn hóa, mà còn là khả năng góp phần vào lựa chọn nội dung, hình thức biểu đạt, phương thức tổ chức và cách chia sẻ giá trị.

Với cộng đồng di sản, điều này liên quan trực tiếp tới quyền tham gia vào quá trình bảo vệ, khai thác và tái tạo di sản. Với người trẻ, đó là cơ hội thử nghiệm, học hỏi, làm việc liên ngành và tiếp cận không gian sáng tạo. Với nghệ sĩ và doanh nghiệp văn hóa, đó là cơ chế đối thoại, hỗ trợ và bảo vệ sáng tạo…

“Chủ thể sáng tạo phát triển qua một quá trình xã hội cụ thể: được giáo dục, được tiếp cận văn hóa, được thực hành, được thử nghiệm, được kết nối, được bảo vệ quyền lợi và được ghi nhận giá trị. Kiến tạo hệ sinh thái văn hóa chính là tổ chức các điều kiện ấy trong một cấu trúc phát triển có định hướng”, PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương nhận định.

Khôi Nguyên

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/tiep-bien-va-sang-tao-van-hoa-viet-nam-10423952.html