Tiếng reo của nước

Họ đã đi. Trong chuyến thiên di của cuộc đời, những người Cơ Tu miền Thượng rong ruổi khắp các cánh rừng, dừng lại, lập làng, rồi có lúc lại đi, tìm một nơi chốn khác. Họ gùi theo những tài sản bé mọn của mình, từng cái chum cái ché, từng chiếc nồi đồng, hạt giống cho mùa sau. Họ gùi theo cả tên làng…

Già Bríu Pố, người già làng ghi nhớ lịch sử của miền đất. Ảnh: VIẾT NIỆM

Già Bríu Pố, người già làng ghi nhớ lịch sử của miền đất. Ảnh: VIẾT NIỆM

1. Thượng nguồn sông Lăng những ngày cuối tháng Bảy, nước trong vắt soi rõ từng viên đá cuội. Người Cơ Tu xứ Quảng bao đời đã sống như dòng sông ấy, hiền hòa, lặng lẽ, mang trong mình một sức sống mãnh liệt.

Như suối nguồn, cha ông họ và bao thế hệ tiếp nối đã len lỏi giữa rừng. Cả làng “chảy” theo những chuyến thiên di.

Sử làng, cứ hệt như một bản giao hưởng của nước, có lúc ầm ào dữ dội, có lúc lặng lẽ yên bình. Duy chỉ có mạch nguồn ký ức vẫn neo lại, truyền đời qua nhiều thế hệ…

Tuổi đã cao, nhưng già làng Bh’riu Pố (thôn Lăng, xã Tây Giang) vẫn nhớ rành rẽ về mạch nguồn dòng tộc. Bên bếp lửa, già Pố nâng bát nước lá rừng thơm, kể về ngôi làng nhỏ Pơrning của mình.

“Người Cơ Tu mình từ xưa giờ, dừng lại lập làng chỗ nào có con sông, con suối nuôi cái chân, cái bụng, có chỗ đi bắt con cá, con tôm thì lấy luôn tên nước ấy làm tên làng. Tên làng từ đó sẽ đi theo suốt cả hành trình của họ, đời này qua đời khác, lớp này qua lớp khác”, già Pố kể.

Lật lại những trang ký ức biến thiên của vùng cao, sẽ thấy lịch sử tộc người là chuỗi những cuộc định cư và rời đi, dằng dặc. Họ di cư vì chiến tranh, bom đạn từng dội xuống mái nhà, vì những mùa đói quay quắt khi rẫy nương mất mùa, vì những trận dịch bệnh bí hiểm. Hay đôi khi chỉ vì một cái "chết xấu" khiến cả làng phải dỡ nhà, bỏ xứ mà đi.

Nhưng dù có dạt về phương nào, ký ức về cái tên gốc sinh ra từ con nước vẫn không bao giờ mất.

"Làng cũ của tôi ngày xưa mang tên Pơrning. Pơrning là tên con suối mà tổ tiên uống nước. Người sinh ra ở đó, người chết đi ở đó. Thế rồi chiến tranh dội bom xuống, điều kiện không cho phép người mình ở tập trung một chỗ nữa. Làng Pơrning buộc phải xé ra làm ba, làm bốn nhánh để đi tìm đất sống.

Nhánh của tôi dạt về vùng đất mới, lập ra làng mới bên một con nước khác, gọi là làng Arớh. Nhưng dù cái biển tên cắm đầu làng lúc đó ghi là làng Arớh, người ta vẫn gọi chúng tôi là người Pơrning.

Đi đâu, làm gì, cái bụng mình vẫn mang theo tiếng suối Pơrning chảy miết trong đầu, trong tình cảm, không cách gì bứng xóa được. Cái tên làng cũ nó thành ký ức cất kỹ trong sâu thẳm lòng mình, chết đi cũng mang theo", già Pố kể.

Cán bộ xã Avương về tận từng thôn để phổ biến, lấy ý kiến dân cư liên quan đến sắp xếp, sáp nhập và lựa chọn tên cho thôn mới. Ảnh: ÁI NGHI

Cán bộ xã Avương về tận từng thôn để phổ biến, lấy ý kiến dân cư liên quan đến sắp xếp, sáp nhập và lựa chọn tên cho thôn mới. Ảnh: ÁI NGHI

2. Cái tên sinh ra từ nước ấy cứ thế lặng lẽ tồn tại, làm chiếc lạt mềm buộc quá khứ vào hiện tại, ngay cả khi nó chạm vào lăng kính hành chính của thời đại.

Câu chuyện sáp nhập thôn bản vừa qua ở vùng cao Tây Giang, nhìn dưới góc độ của những người trẻ như Briu Quân, Chủ tịch xã Avương, là một bước đi tất yếu.

Anh Briu Quân chia sẻ, việc sáp nhập, quy hoạch lại thôn bản là điều kiện tiên quyết để đưa điện, đường, trường, trạm về với bà con một cách tập trung, hiệu quả nhất, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng biên giới. Phát triển kinh tế và quản lý xã hội cần sự tập trung, đó cũng chính là chủ trương, là quyết tâm của chính quyền trong công cuộc chăm lo cho đồng bào miền núi.

Avương và các xã vùng cao khác không áp đặt những con số, những cái tên vô hồn cho thôn mới. Họ, cán bộ cơ sở lặn lội xuống từng gươl, ngồi lại cùng các già làng để tìm một cái tên chung, đáp ứng được cả lý lẫn tình.

Sau sáp nhập, xã Avương có 12 thôn, trong đó 6 thôn thành lập mới, 1 thôn đổi tên, còn lại 5 thôn giữ nguyên tên cũ do yếu tố đặc thù.

Chủ tịch UBND xã Avương Briu Quân lý giải, chuyện đổi hay giữ tên làng đều được lắng nghe, cẩn thận tiếp thu ý kiến của cộng đồng, nhất là các già làng, người có uy tín. Cái tên nào lâu đời nhất, chung nhất, ý nghĩa và được sự đồng thuận cao nhất, sẽ được chọn.

Ở ngôi làng của già Bh’riu Pố, lúc cán bộ xuống họp dân, bàn xem gộp làng thì lấy tên gì, cuộc tranh luận đã diễn ra, rất sòng phẳng.

Có người nói, giờ nhập vô làng Pơrning thì lấy luôn tên Pơrning. Nhưng cái bụng người làng bên cạnh không chịu, vì tâm lý cục bộ, sợ mang tiếng mình "thua" nên phải đi nhập vào tên của làng khác.

Lãnh đạo xã cùng các già làng đã khéo léo lật lại lịch sử, địa lý để tìm về một mạch nước chung: Thôn Lăng.

Con sông Lăng chính là dòng nước chung thủy bao đời nay chảy bao quanh vùng đất, là nơi chứng kiến mọi vui buồn, những mùa lúa rẫy, những đám cưới, đám ma, cả những lễ hội đâm trâu từ thuở hồng hoang. Con sông không của riêng dòng họ nào, không của riêng cái làng cũ nào.

Lấy tên sông Lăng đặt cho thôn mới, vừa giữ được cái gốc gác truyền thống của xã Lăng thời trước, vừa xóa bỏ được tâm lý phân biệt giữa các làng.

Còn ngôi làng Pơrning huyền thoại của già Pố thì lui về một vị trí trang trọng và thiêng liêng hơn: Nguyên vẹn trong tâm thức, âm thầm chảy trong tình cảm của những người già, một dòng hải lưu ngầm giữa mênh mông ký ức.

Thôn Arớh nơi già Bh'riu Pố ở nay trở thành thôn Lăng. Ảnh: VIẾT NIỆM

Thôn Arớh nơi già Bh'riu Pố ở nay trở thành thôn Lăng. Ảnh: VIẾT NIỆM

3. Để cái tên mới thực sự kết nối trọn vẹn hai mạch nguồn ký ức và hiện tại, người Cơ Tu có một cách ứng xử chạm vào tâm linh vô cùng văn minh: Lễ kết nghĩa.

Với đồng bào, việc nhập hai ngôi làng làm một không thể chỉ xong sau một quyết định giấy tờ. Họ cần một lời xin phép đàng hoàng với thần linh để tín thác niềm tin.

Già Pố giải thích, muốn nhập làng, muốn đón người khác vào chung một nguồn nước thì phải làm lễ để thần linh chứng giám, thần linh chấp thuận.

“Anh không thưa gửi dân làng, đặc biệt là không thưa gửi thần linh, thần sông, thần núi thì đó là việc làm trái ý bề trên. Sau này, lỡ gia đình người ta có người ốm đau, làng bản có tai nạn, dịch bệnh, người ta sẽ đổ lỗi tại thần linh quở phạt. Làm lễ cúng tế con gà, con heo là để thần linh ban an bình cho cả làng mới.

Khi thần linh đã uống chén rượu cần chứng giám rồi, thì từ nay người làng A, người làng B đều là giọt máu một nhà, cùng ăn chung một mâm, cùng tỉa chung một rẫy, cái bụng không còn nghĩ xấu, nghĩ độc cho nhau nữa. Thần linh chấp nhận rồi thì mình không sợ thần linh trị tội nữa, cái bụng người già, người trẻ đều được yên tâm”, già Pố nói.

Nghi lễ dâng cúng kết nghĩa không là một “thủ tục” để hợp thức hóa những cái tên, mà là khoảnh khắc người miền Thượng tự khơi mở một lòng sông mới trong tâm tưởng. Khi ché rượu cần được vít xuống, lời khấn của già làng tan vào sương, sẽ là một ngôi làng mới với cái tên mới, khởi đi cho mối kết đoàn.

Dòng chảy ký ức sẽ không một ngày đứt gãy. Nó chỉ như con suối nhỏ sau mùa mưa, gom đủ nước để cuộn chảy vào một lòng sông lớn bao dung và thênh thang hơn.

Để rồi, dưới bóng che chở muôn đời của Mẹ Rừng, mọi ranh giới về cái tên mới hay cũ nhòa mờ, nhường chỗ cho sự hòa hợp lớn hơn, bằng nghĩa đồng bào.

Những danh xưng hành chính ngoài kia có thể đổi thay, có thể khoác lên mình chiếc áo mới để bắt kịp nhịp điệu hối hả của một thế giới đang tự làm mới mình mỗi ngày.

Nhưng bản chất của làng, danh xưng thiêng liêng được sinh ra từ nước, được nuôi dưỡng từ mối kết đoàn trăm năm, ngàn năm, vẫn sẽ mãi là mạch ngầm lặng lẽ chảy qua từng tầng thời gian, níu giữ quá khứ vào hiện tại.

Sáp nhập thôn ở miền Thượng, không chỉ là câu chuyện thu gọn những chấm đỏ hành chính trên bản đồ vùng cao.

Đằng sau bước đi ấy, là cuộc chạm mặt âm thầm giữa lăng kính quản lý hiện đại và mạch nguồn ký ức ngàn năm của đồng bào Cơ Tu.

Ở đó, mỗi cái tên làng, một tiếng reo của nước, sẽ vẫn lặng lẽ chảy, như một căn cước thiêng liêng, từ rừng...

THÀNH CÔNG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/tieng-reo-cua-nuoc-3346928.html