Thương nhớ hàng rào

Cuộc sống thay đổi đi lên, nhiều vùng quê bây giờ diện mạo cũng không còn như xưa. Hôm rồi có người bà con báo tin về quê tham dự buổi liên hoan cho một tuyến bê tông vừa mới hoàn thành. Lòng lâng lâng niềm vui xen lẫn phút giây ngẫm ngợi, tiêng tiếc cái hàng rào chè tàu có tơ hồng phủ.

Từng sống ở quê làm sao không nhớ. Đã lâu lắm rồi, những hàng rào chè tàu và cả dây tơ hồng năm nào giờ hiếm hoi tìm thấy ở nhiều vùng nông thôn. Mươi, mười lăm năm trước quê tôi đầy ra khung cảnh những ngôi làng có hàng rào xanh mát. Lề ngay lối thẳng và đẹp mắt nhất vẫn là những hàng rào trồng bằng cây chè tàu, bên trên là những sợi tơ hồng đan cài tạo nên tấm thảm vàng óng như tơ lụa.

Dây tơ hồng mảnh như sợi chỉ mang biểu trưng sâu sắc về nhân duyên, gợi trong tôi những nghĩ suy mông lung về câu chuyện tình yêu, nguyệt lão xe sợi tơ hồng, tình duyên tiền định. Thế nhưng cũng ở quê tôi lại lưu truyền câu ca nhiều người thuộc đến nằm lòng: “Yêu nhau thì bảo rằng yêu/ Đỗ ngâm ra giá, gạn gùng nhau chi/ Yêu nhau thì lấy nhau đi/ Chờ chi cha mẹ, chờ chi tơ hồng…”.

Ngày ở quê, tôi nhớ thi thoảng mẹ vẫn hay ra hàng rào chè tàu hái ít tơ hồng mang vào bếp búi từng gùi nhỏ, nấu nước cùng với rễ cỏ tranh đã “sao vàng khử thổ”. Nước rễ cỏ tranh và tơ hồng vị khay khay, vừa đắng nhẹ vừa ngọt dùng để giải cảm và trị được cả ho. Nay mẹ đã không còn nhưng thứ nước mẹ sắc uống ngày ấy vẫn hoài trong ký ức.

Hàng rào chè tàu là những gì thân thuộc gắn bó với ngôi nhà, làng mạc, tuổi thơ tôi. Gọi là hàng rào nhưng hàng chè tàu ở quê rất đặc biệt. Bởi hàng rào nhưng lại không ngăn cách, tình làng nghĩa xóm không tách rời. Ngày đó, nhà tôi với nhiều nhà tranh vách đất trong xóm có hàng chè tàu như trang trí để gian nhà thêm mát mẻ, thanh bình. Với những gia đình khá giả hơn làm được nhà xây, mái ngói thì hàng chè tàu sẽ làm cho ngôi nhà thêm quý phái và không xa rời, kiểu cách.

Ai đi vào nhà mà không qua ngõ. Xóm làng sống cạnh nhau dùng chung hàng chè tàu làm ranh giới. Những quả chín đầu mùa hay đi đâu xa có món gì ngon, lạ, người quê thường gửi trao nhau í ới qua dãy hàng rào. Tuổi mới lớn, đánh đu qua hàng rào chè tàu còn có những ánh mắt sáng lên lấp lánh khi cô bé nhà bên một hôm bất ngờ thành thiếu nữ; một hôm thấp thoáng bóng chiếc áo dài trắng thư sinh sau hàng rào chè tàu mướt xanh đầy thi ảnh.

Hàng rào chè tàu có tơ hồng phủ tự bao giờ đã trở thành cung bổng, cung trầm trong nốt nhạc tơ vương tâm trí bao người ở quê ra phố. Mỗi lần về quê tôi lại thẫn thờ khi không còn nhìn thấy những hàng rào chè tàu uốn lượn dọc con đường làng, hay băng thẳng tắp từ ngõ vào nhà như nét kẻ. Làng quê đổi mới, đi lên, nhà cửa người dân ở quê ngày một kiên cố, khang trang, cổng ngõ sắt thép, đường sá bê tông…nhưng vẫn nghe đâu đây về một khoảng trống vắng, chơi vơi. Đâu rồi những chiều mưa đổ, nhìn triệu triệu hạt mưa tưới tắm hàng chè tàu trước ngõ, gọi về những phiến lá non tươi, từng sợi tơ hồng quấn quýt, gọi về ngày tháng có đầy đủ mẹ cha trong căn nhà tuổi nhỏ.

Điều may thay nhiều vùng quê ở Thạnh Bình, Tiên Phước của xứ Quảng người dân nơi đây vẫn còn nâng niu, gìn giữ những hàng rào chè tàu, những ngõ đá được xếp rất tỉ mẫn, công phu tạo nét duyên thầm, hồn cốt làng quê một vùng sơn cước. “Có duyên lấy được chồng nguồn/ Ngồi trên ngõ đá có buồn cũng vui”. Vui ở đây là vui với cảnh quê, với duyên quê, với tình quê vậy.

Ngoái lại quê xưa giờ là bao kỷ niệm. Nhớ lối ngõ vào nhà, nhớ hàng rào chè tàu có tơ hồng phủ những đêm mất điện tối om, đàn đom đóm lập lòe và nhớ cả đêm trăng…Nhớ mẹ cha tôi người Nam kẻ Bắc, chiến tranh loạn lạc bao nhiêu năm nhưng sợi tơ hồng buộc chặt, ghép đôi để nên duyên chồng vợ. Và nhớ những bước chân ly quê làm sao để đo được nhớ nhung và ký ức…

VÕ VĂN TRƯỜNG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/thuong-nho-hang-rao-3353120.html