'Thực', 'thật', 'thiệt' có liên quan gì đến nhau?
Dù có thể thay thế nhau trong một số ngữ cảnh, 'thực', 'thật' và 'thiệt' không cùng nguồn gốc. Học giả An Chi lý giải lịch sử, ngữ âm và những ngộ nhận quanh ba chữ này.

Dù đều mang nghĩa liên quan đến sự chân thực trong một số ngữ cảnh, "thực" và "thật" là hai từ Việt gốc Hán khác nhau. Trong Chuyện đông Chuyện Tây, nhà nghiên cứu An Chi cho biết, từ thời Thuyết văn giải tự của Hứa Thận (đời Hán), hai chữ này đã được ghi nhận là độc lập với cách đọc khác nhau.
Trong cuốn sách, học giả lý giải "thiệt" trong "thiệt tình" thực chất là cách đọc trại của "thật", xuất phát từ việc kiêng húy tên bà Hồ Thị Hoa - chính phi của hoàng tử Đảm (sau là vua Minh Mạng). Bà được vua Gia Long đặt tên là "Thật", vì vậy người đời đổi cách đọc thành "thiệt" để tránh phạm húy. Tương tự, chữ "hoa" cũng từng được đọc thành "huê" vì cùng lý do.
Tuy nhiên, "thiệt" trong các từ "thiệt mạng", "thiệt hại", "thiệt thòi" lại là câu chuyện khác. Theo An Chi, đây không phải biến âm của "thật" mà là âm Hán Việt chính thống của một chữ Hán khác, mang nghĩa gãy, hao tổn, mất mát. Ngày nay, chữ này phổ biến hơn với âm "chiết" (như trong "chiết khấu", "chiết tự", "khuất chiết") nhưng các từ điển cổ như Đường vận, Tập vận, Vận hội, Chính vận đều ghi nhận âm đọc "thiệt".
An Chi cũng cho rằng việc nhiều từ điển hiện đại gộp chung hai âm chiết và thiệt đã khiến âm "thiệt" dần bị quên lãng, dẫn đến quan niệm sai rằng đây là một từ thuần Việt.
Ngoài ra, "thòi" trong "thiệt thòi" cũng là một từ Việt gốc Hán. Từ này bắt nguồn từ chữ có âm Hán Việt hiện đại là "tồi", cũng mang nghĩa gãy, tổn hại, nên kết hợp với "thiệt" để tạo thành tổ hợp chỉ sự mất mát, bất lợi.



























