Thông tư 05: Giảng bằng tiếng nước ngoài được tính tối đa 2 giờ chuẩn
Theo Thông tư số 05 vừa được Bộ GD&ĐT ban hành, một giờ giảng bằng tiếng nước ngoài đối với môn học không phải ngoại ngữ được quy đổi từ 1,5 - 2,0 giờ chuẩn. Quy định mới cũng làm rõ cách tính giờ cho nhiều hoạt động chuyên môn và định mức giảng dạy theo từng trình độ đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành quy định chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, trong đó làm rõ việc quy đổi các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ ra giờ chuẩn và định mức giảng dạy theo từng trình độ đào tạo.
Một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư 05 là quy định về hệ số quy đổi giờ giảng. Cụ thể, một giờ giảng bằng tiếng nước ngoài đối với các môn học, mô-đun không phải là môn ngoại ngữ được tính từ 1,5 đến 2,0 giờ chuẩn.
Đối với lớp học có số lượng học viên, học sinh, sinh viên vượt quy định, một giờ giảng lý thuyết được nhân hệ số quy đổi nhưng tối đa không quá 1,5 giờ chuẩn.

Đối với lớp học có số lượng học viên vượt quy định, một giờ giảng lý thuyết được nhân hệ số quy đổi
Đối với lớp học có số lượng học viên, học sinh, sinh viên vượt quy định, một giờ giảng lý thuyết được nhân hệ số quy đổi nhưng tối đa không quá 1,5 giờ chuẩn.
Ngoài ra, một giờ giảng dạy, hướng dẫn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho nhà giáo khác hoặc tham gia hội giảng, hội thi, kỳ thi, cuộc thi các cấp được tính bằng 1,5 giờ chuẩn.
Thông tư cũng bổ sung nhiều hoạt động chuyên môn được quy đổi ra giờ chuẩn như: thiết kế, cải tiến, tự làm thiết bị giáo dục nghề nghiệp; xây dựng, phát triển học liệu số, bài giảng điện tử đã được phê duyệt.
Đối với nhà giáo giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất, thời gian tham gia phong trào thể dục thể thao, huấn luyện quân sự cho cán bộ, nhà giáo, nhân viên trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng được tính vào giờ chuẩn.
Các hoạt động chuyên môn khác như soạn đề thi, coi thi, chấm thi; hướng dẫn và chấm chuyên đề, khóa luận tốt nghiệp; hướng dẫn thực tập; bồi dưỡng học viên, học sinh, sinh viên tham gia các kỳ thi, hội thi về kỹ năng nghề, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật, thể thao… và các nhiệm vụ chuyên môn khác đều được quy đổi thành giờ chuẩn theo quy định.
Định mức giờ chuẩn theo từng trình độ: Nhà giáo giảng dạy trình độ cao đẳng: từ 350 đến 450 giờ chuẩn mỗi năm học; Trình độ trung cấp: từ 400 đến 510 giờ chuẩn; Trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác: từ 450 đến 580 giờ chuẩn.
Đối với nhà giáo giảng dạy các môn học chung, định mức là 450 giờ chuẩn mỗi năm đối với trình độ cao đẳng và 510 giờ chuẩn đối với trình độ trung cấp.
Nhà giáo giữ chức vụ quản lý hoặc làm việc tại các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ được áp dụng định mức từ 8% đến 20% so với định mức giờ chuẩn.
Nhà giáo được giao giảng dạy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm áp dụng định mức như nhà giáo dạy trình độ cao đẳng.
Trường hợp tổng số giờ giảng vượt định mức trong năm học được xác định là giờ dạy thêm và được thanh toán theo quy định hiện hành, song không vượt quá giới hạn làm thêm theo quy định của pháp luật.
Về thời gian làm việc trong năm học, nhà giáo giảng dạy trình độ cao đẳng và trung cấp làm việc 44 tuần/năm; nhà giáo giảng dạy trình độ sơ cấp và nhà giáo giữ chức vụ quản lý làm việc 46 tuần/năm.





























