Thi pháp giễu nhại trong thơ lục bát Nguyễn Hùng Vĩ
Nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ sinh năm 1956, quê Nghệ An, có nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy Văn học và Văn hóa dân gian tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông nổi tiếng với các giáo trình, chuyên khảo, nghiên cứu về văn học dân gian và còn sáng tác thơ, lời dân ca và kịch bản truyền thống.
Nhiều năm qua, Nguyễn Hùng Vĩ là một gương mặt thơ độc đáo khi đưa tinh thần giễu nhại như một dạng “hài hước trí tuệ” vào thể thơ lục bát, vốn truyền thống là trữ tình, đằm thắm. Ở ông, lục bát không chỉ “ru” người đọc bằng nhịp sáu, tám mềm mại, mà còn châm chích, bông đùa, lật tẩy những thói quen, định kiến hay tình cảm sáo mòn.
Sự kết hợp giữa hình thức dân gian và giọng điệu giễu nhại đã tạo nên một thi pháp riêng, vừa dân dã vừa tinh quái, vừa hóm hỉnh vừa sâu sắc. Giọng giễu nhại, hóm hỉnh có nguồn từ chất dân gian, Nguyễn Hùng Vĩ am hiểu sâu văn hóa dân gian, đặc biệt làlối hóm hỉnh, mỉa mai, châm biếm mà người Việt xưa thường dùng trong ca dao, hò vè. Trong thơ ông, tiếng cười không chỉ để mua vui, mà còn để tự trào, “nhại” lại những công thức nghiêm túc của thơ trữ tình nhằm tạo ra hiệu ứng bất ngờ.
Câu thơ giễu nhại mang tính trò chuyện tự nhiên
Trong bài thơ "Tặng vợ" ông viết thế này ""Từ ngày nối mạng oai phai/ Vợ em như thể người ngoài hành tinh/ Nửa thông thái, nửa thần kinh/ Lên phây thì nhặt, làm tình thì thưa/ Khi tăng động, lúc ngơ ngơ/ Đêm qua còn dọa làm thơ tặng chồng/ Trời ơi thơ ấy mà xong/ Em thề đi bụi em không dám về".
Bài thơ bắt đầu bằng tình huống đời sống hôn nhân hiện đại (Từ ngày nối mạng oai phai), vừa có ý chê trách vừa ẩn chứa tình cảm gắn bó, vì chỉ những người thân thiết mới đủ “gan” nói thẳng đến vậy. Sự pha trộn này làm thơ vừa gần gũi, vừa không sến, vừa giữ được chất hóm hỉnh ngay cả trong những khoảnh khắc bày tỏ tình cảm. Đây là mẫu mực của sự kết hợp giữa dân gian và hiện đại.
Thơ lục bát vốn gắn với ca dao tình cảm, nay được “lắp” vào chuyện mạng xã hội, Facebook, sự thay đổi trong quan hệ vợ chồng: "Nửa thông thái, nửa thần kinh/ Lên phây thì nhặt, làm tình thì thưa”. Sự đối lập giữa “thông thái” và “thần kinh”, “nhặt” và “thưa” vừa tạo nhịp cười, vừa là nhận xét hóm hỉnh về lối sống mới.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà thơ Nguyễn Hùng Vĩ.
Lục bát truyền thống vốn uyển chuyển, trầm bổng; Nguyễn Hùng Vĩ vẫn giữ nhịp 6-8 nhưng chọn nhiều từ ngữ khẩu ngữ, đời thường: “mày tao”, “đi bụi”, “ngơ ngơ”, “nóng giây giẫy”… Những từ này khi đưa vào khuôn lục bát tạo hiệu ứng dí dỏm, bất ngờ, vì người đọc không quen nghe chúng trong thơ.
Các bài thơ lục bát ngắn của ông có nhịp điệu nhanh, ít ngân nga giúp câu thơ giống như lời trò chuyện, khiến tính giễu nhại thêm tự nhiên. Thơ vì thế dễ đọc, dễ nhớ, nhưng không đơn giản bởi trong cái “nói như chơi” vẫn ẩn những tầng nghĩa sâu.
Một nguồn lực hài hước mạnh mẽ của Nguyễn Hùng Vĩ là lối tự trào khi nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình thường cười trước hết vào chính mình, mà bài thơ "Nhắn trò" là một dẫn chứng "Đàn ông không có mấy hào/ Ra đường chẳng dám hỏi chào người quen/ Đàn ông không có quỹ đen/ Ra đường mặt cứ hèn hèn ngơ ngơ/ Đàn ông không có mấy tờ/ Ra đường chân đá ống bơ lèm bèm/ Mấy lời tâm sự anh em/ Tiền đưa hết vợ vừa hèn vừa ngu/ Chi bằng giữ lấy mấy xu/ Ra đường như khỉ đánh đu trên cành".
Nguyễn Hùng Vĩ thường lấy chất liệu từ kho tàng dân gian, nhưng thay vì dùng nguyên bản để ca ngợi, ông “chế biến” nhằm tạo hiệu ứng mỉa mai. Trong"Nhắn trò", cấu trúc lặp “Đàn ông không có…” gợi nhịp điệu của những câu tục truyền, nhưng thay vì ca công, tả chí, ông hạ thấp hình tượng người đàn ông, biến họ thành “vừa hèn vừa ngu” khi mất quyền kinh tế trong gia đình.
Nguyễn Hùng Vĩ không giễu nhại theo kiểu Tây phương thuần túy mà kết hợp tinh thầnhát ví, ca dao, vè châm biếmcủa dân gian Việt Nam. Người đọc dễ tìm thấy trong thơ ông bóng dáng của câu ví phường vải, phường cấy, nơi lời hát vừa tình vừa chọc ghẹo; rồi vè đám cưới, vè chợ dùng lối liệt kê, nhấn điệp để gây cười theo cách ca dao châm biếm, ưa so sánh bất ngờ, dí dỏm.
Điểm mới là Nguyễn Hùng Vĩ đặt những yếu tố ấy trong bối cảnh đời sống hiện đại thường nhật hiện nay, giúp thơ giễu nhại của ông không chỉ mang tính “cổ vị” mà còn bắt nhịp thời sự như bài "Họp lớp" dưới đây: "Chức quyền danh vọng bằng không/ Mày tao giữa tuổi nên ông nên bà/ Gặp nhau con gái thì già/ Đàn ông thì trẻ như là trai lơ/ Tan ra với bụi với bờ/ Làm quan, làm báo, làm thơ, làm thầy/ Cậy già tay nắm lấy tay/ Lời xưa chưa thật, lời nay ta đùa/ Quên đi mất được hơn thua/ Thôi đi cay đắng chát chua sự đời/ Cười đi ta quậy nhau cười/ Hoa dâm đi hỡi cái thời hoa niên/ Thế mà đụng chạm thần tiên/ Nóng giây giẫy tuổi sinh viên nóng về".
Ở "Họp lớp", tiếng cười tập thể, giễu mình và giễu đời đến từ việc nhìn thẳng vào sự thay đổi của con người "Gặp nhau con gái thì già/ Đàn ông thì trẻ như là trai lơ”. Một nhận xét ngược đời, trêu chọc nhưng không ác ý, mở đường cho cả loạt câu giễu khi chức quyền tan ra, những “hơn thua” bỏ lại, chỉ còn tiếng cười của bạn bè. Lối viết này rất gần với “trò hề làng” trong hội hè dân gian khi ai cũng có thể bị trêu, miễn là trêu bằng tình.
Lối thơ tự trào, hài hước mạnh mẽ
Thơ lục bát giễu nhại của ông thường có cấu trúc “giả nghiêm” rồi “bẻ lái” bất ngờ với thủ pháp nổi bật là mở đầu bằng giọng nghiêm trang, chuẩn mực, rồi bất ngờ bẻ lái sang hài hước. Ví dụ, trong bài"Bồ ơi", câu mở: “Ta về với vợ ta đây” dễ khiến người đọc chờ đợi một bài thơ ân tình, thủy chung. Nhưng ngay sau đó, câu “Nhớ thương xếp để dạ này bồ ơi!” lập tức phá vỡ ảo tưởng, bộc lộ nhân vật trữ tình vừa thật thà vừa trớ trêu. Cách dựng tình huống này giống thủ pháp “mồi” trong truyện cười, dẫn người nghe đến một dự đoán an toàn rồi bất ngờ lật kịch bản.
Sự bẻ lái tạo cảm giác bất ngờ, làm bật lên tiếng cười nhưng không phải tiếng cười đơn thuần giải trí, mà là tiếng cười có tính phản tỉnh, soi chiếu mối quan hệ tình cảm, lòng chung thủy, sự “đa đoan” rất đời thường theo kiểu: "Ta về chào nhé lăng nhăng/ Giả giời cho gió cho giăng hẹn hò/ Giả thắc thỏm mấy lo lo/ Tơ vương nhền nhện tò vò thoáng qua/ Ta về bỏ quá cho ta/ Nhớ mong trong dạ cũng là nhớ mong".
Một nguồn lực hài hước mạnh mẽ của Nguyễn Hùng Vĩ là lối tự trào khi nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình thường cười trước hết vào chính mình. Trong "Nhắn trò", “Tiền đưa hết vợ vừa hèn vừa ngu” là một kiểu tự nhận thua, nhưng đằng sau tiếng cười là sự thừa nhận quyền lực kinh tế của phụ nữ trong gia đình.
Trong "Anh đi anh về", sự mô tả những thay đổi nhỏ nhặt khi vắng nhau toàn ở… cái giường vừa hài vừa thấm tình, cho thấy tác giả không ngại “bóc” đời sống riêng để chia sẻ với bạn đọc. Lối tự hạ này khiến thơ bớt sắc cạnh châm biếm, chuyển thành nụ cười nhân hậu, bao dung: "Anh đi giường rộng bằng hai/ Anh về giường lại rộng nơi anh nằm/ Anh đi giường điếc giường câm/ Anh về giường lại reo ầm cả tai/ Anh đi ngày ngắn đêm dài/ Anh về đêm kéo dằng dai sang ngày...".
Ý nghĩa của giễu nhại trong thơ Nguyễn Hùng Vĩ cho thấy, giễu nhại ở đây không nhằm “giễu cợt vô thưởng vô phạt”, mà là một cách giữ khoảng cách với cảm xúc để người viết và người đọc có thể nhìn rõ hơn bản chất của tình huống.
Nó giải thiêng những mô-típ trữ tình sáo mòn, buộc ta thấy tình yêu, tình bạn, hôn nhân vốn đầy nghịch lý và mâu thuẫn. Nó làm nhẹ nỗi buồn, biến thất vọng thành câu chuyện tiếu lâm, khiến người ta dễ chia sẻ hơn. Nó khẳng định lục bát vẫn còn khả năng thích ứng với tinh thần hài hước và phản tư của đời sống hiện đại.
Thi pháp giễu nhại trong lục bát Nguyễn Hùng Vĩ là sự kết hợp giữa truyền thống dân gian và cảm thức hài hước hiện đại. Ông khéo dùng cấu trúc “giả nghiêm - bẻ lái”, biến tấu thành ngữ, đối lập tình cảnh, pha trộn trữ tình với trào tiếu, vận dụng giọng tự hạ mình, giữ nhịp nhanh và từ ngữ đời thường. Nhờ đó, thơ ông vừa có “hơi thở ca dao” vừa phản ánh sinh động nhịp sống hôm nay. Tiếng cười trong thơ không chỉ để giải trí, mà còn để soi chiếu, để nhẹ lòng, để yêu cuộc đời với tất cả cái duyên, cái dí dỏm và cái tinh tế của tiếng Việt.
Tiếng cười trong lục bát Nguyễn Hùng Vĩ vừa mang tính giải trí vừa chứa tính phản tỉnh. Nó nối dài truyền thống tiếng cười dân gian Việt Nam thật nhẹ nhàng, không ác ý, nhưng đủ sắc để người nghe “giật mình” nhận ra một sự thật. Đây cũng là một cách làm mới lục bát, không chỉ ru êm với trữ tình, mà còn sống động, bông phèng, hợp với đời sống hôm nay.
Có thể nói Nguyễn Hùng Vĩ đã vận dụng thành công thi pháp giễu nhại trong thơ lục bát, mượn cái nghiêm trang để nói điều bông đùa, mượn tiếng cười để nói chuyện nghiêm túc. Nhờ sự am hiểu sâu sắc về ca dao, ông giữ được nhịp điệu và hồn vía của thơ dân gian, đồng thời thổi vào đó hơi thở hiện đại và lối hài hước dí dỏm. Tiếng cười của ông không chỉ là trò vui chữ nghĩa, mà còn là một cách nhìn đời vừa lạc quan, vừa thấu hiểu, vừa biết tự giễu để sống nhẹ nhõm giữa bao nhiêu “nghiêm trọng” của cuộc sống.