Theo 'ông Ké' làm cách mạng - Bài 2
Bài 2: Cuốn vở 'Già Thu' tặng cô bé Nông Thị Trưng
Giữa núi rừng Pác Bó những năm 1941 - 1945, bên cạnh Kim Đồng và những đội viên thiếu niên cứu quốc còn có một cô gái trẻ dân tộc Tày là Nông Thị Bày, sau này được “ông Ké” (lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc) đặt tên là Nông Thị Trưng. Từ một bé gái vùng cao ít học, chịu nhiều định kiến của xã hội cũ, cô được Bác trực tiếp dạy chữ, giáo dục lý tưởng cách mạng và dìu dắt trưởng thành. Những lời dạy của “ông Ké” và cuốn “Binh pháp Tôn Tử” cùng bài thơ Người viết tặng đã trở thành hành trang theo bà suốt năm tháng hoạt động cách mạng và phụng sự quê hương, đất nước.
Vượt qua định kiến, thoát ly làm cách mạng
Bà Nông Thị Trưng tên thật là Nông Thị Bày (sinh năm 1920) tại Cao Sơn, Tĩnh Túc, huyện Nguyên Bình (nay là xã Tĩnh Túc), lớn lên ở Sóc Hà, Hà Quảng (nay là xã Trường Hà) trong một gia đình nông dân nghèo đông con. Lớn lên trong cảnh quê hương lầm than dưới ách cai trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, cũng như bao bé gái vùng cao thời ấy, cuộc đời của Bày dường như đã được định sẵn với nương rẫy, bếp lửa và hủ tục “trọng nam khinh nữ”.
Nhưng cô bé Bày năm ấy không chấp nhận cuộc đời chỉ quanh quẩn trong căn bếp nhỏ. Qua những lần gặp chị Án Sinh, nữ cán bộ cách mạng ở Lam Sơn, Hòa An, dù còn nhỏ tuổi nhưng Bày dần hiểu hơn về nỗi nhục mất nước, về thân phận người phụ nữ dưới xã hội cũ và về con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc. Những câu chuyện về cách mạng đã mở ra trước mắt cô một chân trời mới: phụ nữ không chỉ biết lo việc nhà mà hoàn toàn có thể tham gia cứu nước, tự giải phóng mình khỏi những ràng buộc lạc hậu.

Bà Nông Thị Trưng (1920 - 2003). Ảnh: Tư liệu
Năm 1936, khi 16 tuổi, Bày được kết nạp vào tổ chức “Thanh niên phản đế”. Với sự nhanh nhẹn, nhiệt tình, Bày được giao nhiệm vụ liên lạc, đưa tài liệu bí mật cho cán bộ hoạt động ở châu Hà Quảng. Trong những năm tháng hoạt động ấy, bà gặp đồng chí Hoàng Văn Thạch (bí danh Hồng Tiến), người cùng chí hướng và sau này trở thành chồng.
Tháng 6/1940, Hoàng Văn Thạch bị thực dân Pháp bắt giam. Nông Thị Bày cũng bị mật thám theo dõi, rình rập. Nhưng giữa vòng vây khủng bố, cô vẫn kiên cường bám cơ sở, làm tổ trưởng phụ nữ, tiếp tục đưa thư, tiếp tế cho cán bộ hoạt động bí mật.
Tháng 7/1941, Nông Thị Bày bị mật thám bắt giam. Sau khi trốn thoát, cô cùng một số đồng chí vượt biên sang Quảng Tây (Trung Quốc) lánh nạn rồi quay về Pác Bó tiếp tục hoạt động cách mạng. Chính tại đây, bà được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Cuộc gặp ấy đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời người phụ nữ vùng cao.
Những ngày được sống bên Người ở Pác Bó
Tại Pác Bó, cô Bày được bố trí ở nhà đồng chí Dương Đại Lâm - một cơ sở cách mạng cách lán Khuổi Nặm không xa. Cũng từ đây, bà được sống và hoạt động gần Bác Hồ trong những năm tháng đầu Người trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Bác Hồ đặt cho bà cái tên mới: Nông Thị Trưng. Cái tên ấy không chỉ thể hiện sự gần gũi, yêu thương mà còn gợi nhắc tinh thần quật cường của Hai Bà Trưng trong lịch sử dân tộc. Từ một bé gái vùng cao ít học với tên mới, cô được Bác trực tiếp dạy đọc, dạy viết, giảng giải về tình hình thế giới, về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về Việt Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương.
Đặc biệt, Bác Hồ thường nói rất kỹ về vấn đề giải phóng phụ nữ. Người phân tích rằng phụ nữ chiếm một nửa xã hội, nếu phụ nữ không được giải phóng thì cách mạng không thể thành công trọn vẹn. Những lời dạy của “già Thu”, “ông Ké” đã mở ra cho cô một nhận thức hoàn toàn mới về vai trò của người phụ nữ trong xã hội và trong cách mạng.
Tháng 10/1941, theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Tỉnh ủy Cao Bằng thành lập Đội du kích Pác Bó gồm 12 người do đồng chí Lê Quảng Ba làm đội trưởng. Nông Thị Trưng là nữ đội viên duy nhất của Đội. Không quản gian khổ, bà cùng các đội viên nam học sử dụng vũ khí, luyện tập chiến đấu, làm giao liên và tuyên truyền trong quần chúng. Ngày 6/12/1941, tại hang Ngườm Vài ở Pác Bó, Nông Thị Trưng được kết nạp vào Đảng. Buổi lễ diễn ra đơn sơ giữa núi rừng nhưng vô cùng thiêng liêng. Bác Hồ cùng các đồng chí: Trịnh Đông Hải, Lê Quảng Ba, Vân Trình trực tiếp dự lễ kết nạp. Người nhận xét: “Qua một thời gian được rèn luyện thử thách, đồng chí Trưng tỏ ra có tinh thần kiên quyết cách mạng, xứng đáng được kết nạp vào Đảng”.
Cũng từ đây, cô gái trẻ Nông Thị Trưng càng thêm thấm nhuần sâu sắc lý tưởng cách mạng và trưởng thành, là một trong những nữ cán bộ chủ chốt đầu tiên của tỉnh Cao Bằng, khẳng định sự tiến bộ vượt bậc của người phụ nữ dân tộc thiểu số trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng phụ nữ.
Sau khi được kết nạp Đảng, đầu năm 1942, Nông Thị Trưng được giao nhiệm vụ đi gây dựng cơ sở tại xã Hồng Việt, Sóc Hà phát triển hội viên các Hội Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc…

Phụ nữ dân tộc Mông, xóm Lũng Mần, xã Cốc Pàng tích cực học tập ứng dụng chuyển đổi số trên điện thoại thông minh do cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cốc Pàng hỗ trợ, hướng dẫn.
Cuốn sách “già Thu” tặng và hành trình vượt lên chính mình
Cuối năm 1944, sau thời gian hoạt động và bị chính quyền Quốc dân Đảng Trung Hoa bắt giam, Nông Thị Trưng trở lại Pác Bó được gặp lại Già Thu, Người tặng cô cuốn “Binh pháp Tôn Tử” do chính Người dịch và chú thích. Ngoài bìa sách, Bác đề bài thơ: “Vở này ta tặng cháu yêu ta/Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là/Mong cháu ra công mà học tập/Mai sau cháu giúp nước non nhà”... Cuốn sách không chỉ là món quà vô giá mà còn là niềm tin lớn lao của Bác Hồ dành cho một nữ cán bộ trẻ. Cô luôn đem cuốn sách bên mình đọc như thuộc lòng để vận dụng vào công tác cách mạng.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bà Trưng tiếp tục được giao nhiều trọng trách: Phó Bí thư rồi Bí thư Huyện ủy Hà Quảng, cán bộ Hội Phụ nữ tỉnh, sau này là Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh. Cuộc đời hoạt động của bà không ít lần gặp khó khăn, có lúc tưởng như phải buông xuôi vì gánh nặng gia đình và cuộc sống thiếu thốn. Nhưng chính tình cảm và sự quan tâm của Bác Hồ đã nâng bà đứng dậy. Khi biết bà xin nghỉ công tác, Bác rất buồn và nghiêm khắc nhắc: “Ngày còn bí mật, khó khăn mấy Trưng nó cũng làm được sao giờ nó lại bỏ về nhà”...
Lời nhắc ấy khiến bà thức trắng đêm suy nghĩ rồi quyết định trở lại công tác đầu năm 1955. Vượt qua mọi khó khăn, bà tận tụy với công việc, vừa đảm việc nhà, vừa tròn việc nước với sự nỗ lực cao nhất. Tháng 9/1960, bà vinh dự được tham gia Đoàn đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Tháng 11/1963, bà được bầu làm Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh. Với cương vị lãnh đạo, bà luôn nhớ lời thề với Đảng và những lời chỉ dạy ân cần của Bác Hồ để nỗ lực phấn đấu cao nhất và giữ cương vị này cho đến khi về hưu năm 1980, trở thành một trong những nữ cán bộ tiêu biểu của Cao Bằng.
Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng của bà Nông Thị Trưng là hành trình từ cô bé Nông Thị Bày ít học, lớn lên trong đói nghèo và định kiến xã hội, vượt qua muôn vàn gian khó để đi theo lý tưởng cách mạng, trở thành cán bộ lãnh đạo tận tụy suốt đời phụng sự Đảng và nhân dân. Trong hành trình ấy, Già Thu ở Pác Bó cùng cuốn “Binh pháp Tôn Tử” và bài thơ Bác viết tặng trở thành nguồn động viên, điểm tựa tinh thần vô giá, tiếp thêm cho bà niềm tin, nghị lực và sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Những kỷ vật ấy không chỉ là dấu ấn của một thời kỳ lịch sử hào hùng mà còn là ngọn lửa tinh thần được bà trân trọng, gìn giữ và mang theo suốt cuộc đời cách mạng của mình.































