Theo dấu bụi vàng huyền tích 'Ngọa long' Đào Duy Từ

Vốn sinh trưởng tại xứ Thanh, 'Ngọa long' Đào Duy Từ học rộng, chí lớn, nhưng do cha làm nghề bị cho là 'xướng ca vô loài' nên ông không được chính quyền vua Lê, chúa Trịnh cho ứng thí. Bất mãn, ông bỏ Đàng Ngoài trốn vào Đàng Trong ẩn mình chăn trâu mưu sinh. Bằng tài năng mưu lược hiếm có, quân sư Đào Duy Từ đã giúp chúa Nguyễn ổn định nội trị và phát triển xứ Đàng Trong, mở mang bờ cõi về phía Nam, đối phó hữu hiệu với âm mưu xâm chiếm của chúa Trịnh ở phía Bắc. Từ đây nảy sinh giai thoại giữa Đào Duy Từ với chúa Trịnh qua bài ca dao trữ tình từ thế kỷ XVII.

Đền thờ Đào Duy Từ tại phường Đào Duy Từ, tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: T.L

Đền thờ Đào Duy Từ tại phường Đào Duy Từ, tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: T.L

Kể từ khi được Khám lý Trần Đức Hòa giới thiệu hội kiến chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên vào năm 1627 cho tới lúc qua đời, Đào Duy Từ chỉ có vỏn vẹn tám năm “xuất tướng” tham chính nhưng đã dựng nên hình ảnh một nhân vật lịch sử “kinh bang tế thế” đại tài. Ông là một nhà chiến lược tham mưu bậc thầy, một chính trị gia xuất chúng, một danh tướng kiệt hiệt, một kiến trúc sư tài ba góp phần quan trọng bảo vệ vững chắc và định hình Nhà nước, địa lý, bản sắc xứ Đàng Trong. Đặc biệt, công trình Lũy Thầy vĩ đại do ông thiết kế xây dựng đơn giản mà hiệu quả trở thành giáo khoa thư về lịch sử quân sự nước ta. Không phải ngẫu nhiên mà lúc đương thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên thường nói rằng: “Đào Duy Từ thật là Tử Phòng và Khổng Minh ngày nay”.

Nhà sử học Tôn Thất Thọ có lý khi nhận định về Đào Duy Từ: “Nhân dân nhiều thế hệ đã không có ý gì chê trách ông không trung thành với vua Lê, chúa Trịnh; cũng không một ai nghĩ rằng ông đã giúp chúa Nguyễn vì ý đồ cát cứ chia cắt giang sơn, tất cả đều quý trọng ông ở một điểm: Ông là một tài năng kiệt xuất và là một vị quan có nhân cách hiếm có của lịch sử nước nhà”.

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có một bài ca dao độc đáo dưới hình thức đối đáp, thường được gọi tên bằng câu đầu Trèo lên cây bưởi hái hoa. Bài ca dao này khi gắn liền với giai thoại danh nhân Đào Duy Từ, được chia làm ba khổ.

Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân/ Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc/ Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!

Tương truyền, bốn câu trên là thơ của chúa Trịnh, tức Thanh Đô vương Trịnh Tráng từ Đàng Ngoài bí mật gửi cho Đào Duy Từ ở Đàng Trong. Luyến tiếc một nhân tài, chúa Trịnh bèn bí mật sai người mang lễ vật vào chiêu dụ Đào Duy Từ, kèm theo phong thư viết bốn câu thơ trên, với lời lẽ xưng hô anh - em đầy ẩn dụ “Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!”. Em đã có chồng, tức họ Đào đã theo phò chúa Nguyễn Phúc Nguyên.

Nhận được thư chúa Trịnh, Lộc Khê hầu Đào Duy Từ cũng phúc đáp bằng thơ, có ý ngầm trách sự thiển cận, thờ ơ của chúa Trịnh Tráng không có đôi mắt nhìn cá nước, chim trời. Đó là khổ thứ hai bài ca dao: Ba đồng một mớ trầu cay,/ Sao anh không hỏi từ ngày còn không?/ Bây giờ em đã có chồng/ Như chim vào lồng, như cá cắn câu./ Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,/ Chim vào lồng biết thuở nào ra?

Đọc thơ, chúa Trịnh thấy Đào Duy Từ lời lẽ khoan hòa nhưng chưa dứt khoát, nên tiếp tục sai người mang thư và đồ vật quý giá hơn bí mật vào Đàng Trong với mong ước lôi kéo ông về Đàng Ngoài cho bằng được. Nhận thấy sự bất tiện trong mối quan hệ riêng tư với chúa Trịnh dễ làm chúa Nguyễn biết được sinh nghi, nên lần này Đào Duy Từ trả lời ngắn gọn nhưng quả quyết bằng hai câu thơ lục bát. Đó cũng là khổ thứ ba, tức khổ cuối bài ca dao: “Có lòng xin tạ ơn lòng/ Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!”.

Lễ hội đền thờ Đào Duy Từ do UBND thị xã Nghi Sơn (cũ) tổ chức năm 2024. Ảnh: T.L

Lễ hội đền thờ Đào Duy Từ do UBND thị xã Nghi Sơn (cũ) tổ chức năm 2024. Ảnh: T.L

Qua giai thoại trên có thể thấy hậu trường chính trị trong lịch sử của cha ông ta thật sống động!

Ở một ý nghĩa khác, Trèo lên cây bưởi hái hoa được xem là bài ca dao tình yêu đầy bi kịch của một mối tình ngang trái. Trong công trình khảo cứu Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, GS Vũ Ngọc Phan cũng đã xếp bài này vào mục “Hôn nhân và gia đình”. Cho dù gắn với giai thoại thiên tài trắc trở Đào Duy Từ hay chỉ đơn thuần nói về tình yêu lứa đôi ngang trái, thì đây cũng là bài ca dao hay trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

Liên quan mối quan hệ giữa Đào Duy Từ với chúa Trịnh Tráng còn có giai thoại chiếc mâm hai đáy và bài thơ bí hiểm. Vào lúc thế lực đã vững mạnh, chúa Nguyễn Phúc Nguyên quyết định tuyệt giao với vua Lê, chúa Trịnh. Năm 1630, theo mưu kế của Đào Duy Từ, chúa Sãi sau khi dâng lễ vật tiến cống Bắc Hà để hòa hoãn, đã cho làm thêm chiếc mâm hai đáy cho sứ Lại Văn Khuông ra dâng cống, trên mâm ghi một bài thơ rất bí hiểm: “Mâu nhi vô dịch/ Mịch phi kiến tích/ Ái lạc tâm trường/ Lực lai tương địch”.

Vua Lê nhận phẩm vật. Chúa Trịnh đọc bài thơ thấy khó hiểu, hỏi khắp các quan nhưng chẳng ai giải được. Vì liêm sỉ sợ sứ giả Đàng Trong đánh giá thấp kiến văn của triều đình, chúa Trịnh không hỏi han gì mà cho khoản đãi và tiễn đoàn rời khỏi Thăng Long như thường lệ. Chúa Trịnh lại cho tìm người giải bài thơ. Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan được tiến cử. Vừa đọc xong, Trạng Bùng đã giảng giải và kết luận, ý của bài thơ “Dư bất thụ sắc” nghĩa là “ta không nhận sắc”.

Đồng thời, nhận thấy cái mâm dày, Trạng Bùng cho rằng giữa mâm chắc chứa điều gì liên quan nội dung bài thơ nên đề nghị chúa Trịnh cho chẻ đôi cái mâm. Thì ra giữa mâm có đạo sắc vua Lê phong cho Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ Thuận Quảng bị đem trả lại. Chúa Trịnh nổi trận lôi đình sai quân lính đuổi theo sứ giả bắt lại. Theo lời dặn của Đào Duy Từ, vừa ra khỏi kinh đô Thăng Long sứ Lại Văn Khuông đã mau chóng phi ngựa thẳng vào Nam yết kiến chúa Nguyễn.

Tài năng Đào Duy Từ còn thể hiện qua tác phẩm Hổ trướng khu cơ soạn ra để dạy các tướng sĩ xứ Đàng Trong. Đây là cuốn binh pháp về nghệ thuật quân sự “độc nhất vô nhị” của nước ta còn nguyên vẹn và được lưu truyền đến nay, thiên về thực hành hơn là lý thuyết và được viết theo quan điểm cổ truyền của thuyết Tam tài “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Đồng thời, với các bài Ngọa Long cương vãn dài 316 câu lục bát, Tư Dung vãn dài 386 câu lục bát cùng một số bài thơ quốc âm khác, Đào Duy Từ còn được xem là một trong những tổ sư thơ lục bát, ngoài việc ông góp phần phát triển nghệ thuật hát bội xứ Đàng Trong.

Phan Hoàng

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/theo-dau-bui-vang-huyen-tich-ngoa-long-dao-duy-tu-277198.htm