Thể chế tạo nguồn lực phát triển kinh tế biển bền vững
Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhận thức về vị trí, vai trò của biển đang được nâng lên. Hệ thống thể chế, chính sách từng bước đã được hoàn thiện; Nhiều ngành kinh tế biển phát triển khá; Kết cấu hạ tầng ven biển được tăng cường; Đời sống của người dân vùng biển được cải thiện; Quốc phòng, an ninh đối ngoại, bảo vệ chủ quyền biển đảo đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Không gian biển mở ra cơ hội lớn
Nhờ đó, kinh tế biển hiện đóng góp khoảng 50% GRDP cả nước, nhiều địa phương ven biển nằm trong nhóm dẫn đầu về thu nhập bình quân đầu người. Trong đó, ngành dầu khí tiếp tục đóng góp hơn 8% tổng thu ngân sách nhà nước. Lĩnh vực hàng hải - logistics phát triển nhanh với 320 bến cảng, tổng chiều dài cầu cảng 102 km; lượng hàng hóa thông qua cảng biển năm 2025 đạt 1,17 tỷ tấn. Đội tàu biển Việt Nam đứng thứ 10 thế giới về vận tải hàng hóa, với 1.434 tàu với tổng trọng tải khoảng 9,4 triệu DWT.
Không dừng lại ở đó, cấu trúc kinh tế biển đang thay đổi nhanh chóng. Nếu trước đây biển chủ yếu gắn với khai thác dầu khí và đánh bắt hải sản thì nay, các ngành kinh tế biển mới nổi đang mở ra dư địa phát triển rất lớn. Đáng chú ý, năng lượng tái tạo ngoài khơi đang được xem là “mỏ vàng xanh” của tương lai. Việt Nam có nhiều vùng biển có điều kiện thuận lợi để phát triển điện gió ngoài khơi, điện sóng và các ngành công nghiệp biển mới. Không gian biển cũng mở ra cơ hội lớn cho logistics biển, đô thị ven biển, trung tâm thương mại tự do và các công trình kinh tế trên biển. Đây sẽ là động lực tăng trưởng mới khi dư địa phát triển trên đất liền ngày càng thu hẹp.
Song, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Đặng Ngọc Điệp nhìn nhận, mặc dù nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển, kết quả hiện nay vẫn chưa như kỳ vọng. Kinh tế biển vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước.
Theo Báo cáo tổng kết triển khai Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng nhận định, nhiều “điểm nghẽn” hiện nay nằm ở khoảng trống thể chế. Đó là việc chưa xác lập đầy đủ cơ chế thúc đẩy kinh tế biển xanh; thiếu chính sách ưu đãi cho các ngành kinh tế biển mới; thiếu công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để phân bổ hiệu quả nguồn lực phát triển biển. Thủ tục hành chính liên quan đến các dự án biển còn phân tán và chồng chéo. Từ đó làm gia tăng chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp; kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư và giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư biển. Ngoài ra, các lĩnh vực khoa học công nghệ biển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu biển vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò là động lực cho tăng trưởng.

Hoàn thiện pháp lý, nhanh chóng tháo gỡ rào cản để phát triển kinh tế biển bền vững
Làm rõ hình hài một quốc gia biển mạnh
Bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao hơn từ kinh tế biển đòi hỏi phải tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển. Trước yêu cầu mới của thực tiễn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, phải khẩn trương xây dựng nghị quyết mới về kinh tế biển, trọng tâm là phải chuyển mạnh từ tư duy sang không gian phát triển biển quốc gia. Nghị quyết mới phải trả lời được câu hỏi lớn, Việt Nam sẽ khai thác và quản trị, phát huy toàn bộ không gian biển quốc gia thế nào để phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nước trong nhiều thập niên tới. Đồng thời cũng phải làm rõ hình hài của một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI, xác định rõ biển sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, năm 2045 và những năm tiếp theo.
PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam phân tích, tư duy không gian biển chính là cách tiếp cận quản lý biển theo không gian dựa vào hệ sinh thái; sử dụng các công cụ thích hợp (quy hoạch không gian biển và phân vùng chức năng biển) để xử lý các xung đột lợi ích ngay từ giai đoạn sớm của quá trình phát triển kinh tế biển; tối ưu hóa lợi ích của các bên liên quan theo lộ trình, bao gồm bảo đảm lợi ích giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng, cũng như tính bền vững của các hệ thống không gian biển. Trên cơ sở đó, việc tổ chức lại không gian kinh tế biển sẽ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế biển nhanh và bền vững dựa vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Những nước đi chiến lược đầu tiên của tư duy mới cũng đang chuẩn bị. Ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết, Dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo sẽ sớm được Quốc hội cho ý kiến và thông qua. Trong đó, vấn đề trọng tâm là thể chế hóa hơn các quan điểm phát triển kinh tế biển xanh, bảo đảm phát triển trong giới hạn và lấy hệ sinh thái làm nền tảng; thúc đẩy chuyển đổi từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành và dựa trên hệ sinh thái, nhằm giải quyết hiệu quả các xung đột, chồng chéo lợi ích trong khai thác, sử dụng không gian biển và tài nguyên biển. Một yêu cầu khác là hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành trong quản lý và phát triển kinh tế biển, khắc phục tình trạng chồng chéo giữa các lĩnh vực như hàng hải, du lịch, dầu khí và các ngành kinh tế biển khác; Việc phân cấp cho địa phương phải gắn với năng lực thực thi và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Để đạt được mục tiêu trở thành một “Quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI”, cùng với hoàn thiện thể chế, chính sách, việc tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ biển và chuyển đổi số, AI trong phát triển và quản trị không gian biển sẽ giúp Việt Nam đột phá. Biển mang lại hiệu quả kinh tế lớn, lâu dài, nhưng đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, thường vấp rủi ro thiên tai cao; các ngành kinh tế biển, nhất là “kinh tế biển sâu, biển xa” phải đi theo lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; quốc phòng, an ninh biển phải hiện đại, đủ sức kiểm soát được vùng trời, không gian mặt biển và không gian ngầm dưới đáy biển… PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi gợi ý.
