Thấy tranh là thấy Tết

Trên tấm liếp của mái nhà tranh, trong làn nắng hanh hao của buổi cuối đông, đầu xuân, gà đàn vui nhộn, những chú lợn âm dương 'béo trục béo tròn', óng ánh trên nền giấy điệp. Những bức tranh dân gian không chỉ trang trí cho căn nhà xuân thêm xuân, cho những ngày Tết thêm sắc màu mà còn gửi gắm bao thông điệp, ước vọng của người dân Việt.

Gà hanh thông

Trông bức tranh 2 chú gà trống hùng dũng, trong tư thế “đối đầu”, một chân “đứng tấn” vững vàng, một chân dương cao sẵn sàng “nghênh chiến”, tôi cứ nghĩ tên tranh là “thư hùng”. Nhưng nhắn hỏi nghệ nhân của dòng tranh dân gian Đông Hồ Nguyễn Hữu Quả mới biết mình nhầm!

Hóa ra tên tranh đã được các cụ xưa ghi rõ bằng 4 chữ Hán: Tam dương khai thái. “Bức tranh này thật hợp với ngày đầu xuân”, ông Quả nói. Giải thích thêm, nghệ nhân của làng Đông Hồ cho hay: Các cụ ngày xưa lấy 12 quẻ tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Tháng 11 quẻ Phục, có một hào dương còn gọi là tháng nhất dương. Tháng 12 quẻ Lâm, hai dương sinh bên dưới gọi là nhị dương. Tháng giêng quẻ Thái, có ba hào dương nên còn được gọi là tháng tam dương.

Tranh gà “Tam dương khai thái”.

“Tam” là ba, “dương” là hào dương trong Kinh Dịch, “khai” là mở ra, “thái” là hanh thông. Quẻ Thái (quẻ Địa Thiên Thái) là quẻ số 11 trong Kinh Dịch. Nội quái là ba nét liền (ba hào dương) tượng trưng cho Càn (Trời). Ngoại quái là ba nét đứt tượng trưng cho Khôn (Đất).

Quẻ Thái tượng trưng cho sự quân bình, hòa hợp giữa Trời và Đất, giữa Âm và Dương cũng là tượng trưng cho tháng Giêng, lúc mà dương khí trong lòng đất bắt đầu hưng thịnh, bốc lên, địa khí giáng xuống, Trời - Đất “ôm bọc” lấy nhau, tiếp sức cho sau, làm cho muôn loài bừng tỉnh, vạn vật hồi xuân, cây cối nảy mầm, đâm chồi, nảy lộc, đem xuân sắc về cho nhân gian.

“Tam dương khai thái là một lời chúc đầu năm, chúc cho tháng giêng - tháng đầu tiên của mùa Xuân, tháng đầu tiên của năm mới mọi việc hanh thông để một năm công việc thuận lợi, khai mở ra những điều tốt lành”, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả cho biết.

Điều thú vị nữa là, chữ “dương” lại đồng âm đọc với “dương” nghĩa là con dê. Người Trung Quốc chuộng cách chơi đồng âm dị nghĩa, nên trong tranh niên họa Trung Quốc, bức “tam dương khai thái” thường vẽ ba con dê nhởn nhơ gặm cỏ. Các cụ nhà ta không vẽ ba con dê mà vẽ hai chú gà trống vừa oai phong, thân thuộc lại hàm chứa ý nghĩa sâu xa.

Gà trống không chỉ là con vật quen thuộc với mọi nhà mà còn được coi là con vật hội tụ “ngũ đức” (5 đức tính): mào đỏ như quan văn đội mũ (văn); cựa sắc nhọn (võ); đối địch, không lùi bước (dũng); chia sẻ khi kiếm được mồi (nhân); báo canh đúng giờ (tín). Tiếng gáy của gà gọi mặt trời lên, ánh dương bao trùm nhân gian, xua đi đêm tối, tiêu trừ những điều xấu, ác. Gà lại đọc âm là “kê” gần âm với “cát” nghĩa là cát tường, may mắn, tốt lành.

Cũng theo nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả, gà là con vật xuất hiện nhiều bậc nhất trong tranh dân gian Đông Hồ. Ngoài bức “tam dương khai thái” đã nói còn có thể kể đến mẫu gà “thư hùng” vẽ một cặp gà trống - mái (trong tiếng Hán, thư là con mái, hùng là con trống), mẫu “ngũ dạ gáy canh hòa” (5 canh gáy đều đặn), mẫu gà đàn, mẫu “kê cúc”, gà đại cát…

Lợn no đủ

Bên cạnh gà, lợn cũng là hình mẫu quen thuộc trong tranh dân gian Đông Hồ. Dân gian vẫn truyền tục câu ca: “Hỡi anh đi đường cái quan/ Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu/ Mua tờ tranh điệp tươi màu/ Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều”. Không phải ngẫu nhiên mà những câu ca nhắc đến hình ảnh con gà, con lợn. Những vật nuôi gần gũi với người dân nông thôn Việt Nam.

Tranh lợn đàn và hai bản khắc gỗ tranh Lễ Trí – Nhân Nghĩa.

Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả cho biết, lợn trong tranh Đông Hồ không chỉ thân quen mà còn có “tạo hình” rất đặc biệt. “Trong dòng tranh Đông Hồ có 3 bức về lợn, bao gồm: Lợn độc (một mình), Lợn ăn cây ráy và Lợn đàn. Hình ảnh con lợn trong tranh xuất phát từ giống lợn ỉ - lưng võng, bụng phệ, vốn quen thuộc ở làng quê Việt Nam, nhưng độc đáo là con lợn lại có hai “khoáy” âm dương rất độc đáo, tạo hồn cho bức tranh”.

Khoáy (xoáy) trên mình lợn không chỉ là một hình ảnh “tả thực” về chòm lông đặc biệt, vặn xoáy thành hình tròn mà còn gửi gắm thông điệp về sự vận hành của vũ trụ. Bởi âm dương là biểu tượng của sự khởi nguyên của sự cân bằng và phát triển liên tục, thể hiện triết lý về sự vận động không ngừng của vạn vật và sự hài hòa của trời đất.

Xoáy âm dương đi cùng với hình ảnh con lợn ỉ - giống lợn địa phương “đặc hữu” ở nông thôn Bắc Bộ, với ngụ ý chỉ sự sinh sôi, nảy nở không ngừng. “Hình tượng con lợn (nái) cùng đàn 5 con (vừa đủ ngũ hành) nô đùa, háu ăn trên tranh thay cho lời cầu chúc một năm mới no đủ, tròn trịa, sum vầy, đông con, đông cháu”, ông Quả chia sẻ.

Kết tinh hồn Việt

Cùng với tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng, tranh làng Sình, tranh Đông Hồ là một trong những dòng tranh dân gian in bằng ván khắc độc đáo của Việt Nam. Tranh Tết không chỉ có Đông Hồ nhưng có lẽ chỉ ở Đông Hồ cái hồn quê dân gian, mộc mạc mới thấm đượm nhất.

Tranh sản xuất quanh năm nhưng cứ vào độ Tết, nhu cầu sắm tranh mới, thay tranh cũ lại tăng vọt làm nên “vụ tranh”, trở thành một phần không thể thiếu của phiên chợ quê ngày Tết: “Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ/Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán”, “Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà/Quên cả chị bên đường đang đứng gọi” (Đoàn Văn Cừ).

Tranh dân gian ngày Tết với đường nét mộc mạc, hình tượng quen thuộc nhưng luôn ẩn chứa những ước nguyện tốt đẹp của người Việt trong năm mới. Điều này không chỉ thể hiện trực tiếp bằng những tranh chữ (chữ Hán) như: phúc, lộc, thọ, lễ, trí, tấn tài, tấn lộc mà còn được ẩn ý, minh họa qua những hoa, quả, động vật, đồ vật như: quả đào tượng trưng cho trường thọ; quả lựu tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở, con đàn, cháu đống; con cóc biểu tượng cho sự đỗ đạt, giàu sang; con cá biểu tượng cho sự đỗ đạt (cá chép vượt vũ môn), dư đầy (do ngư đồng âm với dư)…

Thấy tranh là thấy Tết. Maurice Duran - nhà nghiên cứu người Pháp (tác giả cuốn “Tranh Dân gian Việt Nam, sưu tầm và nghiên cứu”) nhận xét: “Tranh dân gian phản ánh tâm hồn người Việt theo cách mà họ được hấp thụ từ tôn giáo, tín ngưỡng, văn chương, tư tưởng, lịch sử và những phương thức độc đáo từ cuộc sống hàng ngày. Chính trong hệ thống ý tưởng đó, sẽ thích hợp khi cho rằng toàn bộ tranh dân gian Việt Nam đã tạo nên một di sản nghệ thuật quan trọng cho dân tộc”.

“Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” (Hoàng Cầm), trong giá rét mà rộn ràng phiên chợ Tết, giữa mưa phùn ngôi nhà cũ kỹ ấm áp đầy ắp hơi Xuân…; tranh Đông Hồ là để lưu giữ và truyền tải ước vọng ngàn đời...

Tranh Đông Hồ được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp

Ngày 9/12/2025, tại Kỳ họp lần thứ 20 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO diễn ra tại Ấn Độ, Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 đã thông qua quyết định ghi danh di sản nghề làm tranh Đông Hồ vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Theo Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003, tranh dân gian Đông Hồ gắn bó mật thiết với các lễ tiết quan trọng như Tết Nguyên đán, Tết Trung thu, cũng như các nghi lễ thờ cúng tổ tiên và thần linh của người Việt. Tuy nhiên, ngày nay số người có tay nghề cao và tâm huyết theo đuổi nghề quá ít để duy trì việc truyền dạy và làm tranh, nên nghề cần được bảo vệ khẩn cấp.

An Bình

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/thay-tranh-la-thay-tet.html