Thay đổi cách thức phân bổ nguồn lực

Với tổng nguồn lực khoảng 808.558 tỷ đồng, việc tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035 đặt ra yêu cầu thay đổi cách thức phân bổ và tổ chức thực hiện nguồn lực để khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, chồng chéo; đồng thời tập trung nguồn vốn cho các mục tiêu có chung đối tượng thụ hưởng.

Hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia nên đo bằng chất lượng cuộc sống của người dân miền núi. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC

Hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia nên đo bằng chất lượng cuộc sống của người dân miền núi. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC

Gỡ điểm nghẽn từ cơ sở

Những năm qua, nguồn lực mục tiêu quốc gia đã hỗ trợ đắc lực hạ tầng, sinh kế cho người dân vùng núi phía tây thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, việc phân chia nguồn vốn theo từng dự án nhỏ lẻ cũng bộc lộ hạn chế. Nhiều người dân hưởng lợi từ các mô hình hỗ trợ sinh kế, cho biết vẫn còn gặp khó khăn khi phát triển mô hình.

Sau hơn một năm chuyển sang nuôi hươu sao lấy nhung, từ vài con hươu nuôi thử nghiệm, đến nay hộ ông Alăng Lực (thôn Pà Ong, xã Bến Giằng) phát triển đàn hơn 10 con, chủ yếu theo hình thức nuôi chuồng trại, đem lại nguồn thu nhập khá.

Để triển khai mô hình này, ngoài hỗ trợ của Nhà nước, ông Lực phải bỏ ra nhiều công sức, tiền của theo từng năm. Nguồn hỗ trợ chủ yếu tập trung vào con giống ban đầu, trong khi để mô hình phát triển thành sinh kế ổn định, người dân vẫn phải tự xoay xở vốn đầu tư chuồng trại, thức ăn, chăm sóc và phòng bệnh trong suốt quá trình nuôi. Điều này khiến ông Lực và nhiều hộ chăn nuôi khác ở địa phương gặp không ít khó khăn, nhất là việc mở rộng quy mô chuồng trại, bảo đảm thức ăn, chăm sóc và phòng bệnh cho vật nuôi.

Theo ông Lực, chất lượng con giống quyết định hiệu quả chăn nuôi, do đó cần lựa chọn những con hươu có khả năng khai thác nhung tốt. Ngoài ra, xây dựng đầu ra ổn định cũng là yếu tố quan trọng để người dân yên tâm phát triển đàn.

Mô hình chăn nuôi hươu sao của ông Alăng Lực. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC

Mô hình chăn nuôi hươu sao của ông Alăng Lực. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC

Ông Lực kiến nghị các ngành chức năng quan tâm đánh giá hiệu quả mô hình, hỗ trợ kỹ thuật, con giống và kết nối tiêu thụ, qua đó tạo thêm hướng sinh kế phù hợp cho người dân miền núi. Ngoài ra, cần tạo điều kiện để các hộ dân được cấp giống hươu tham gia tập huấn về cách chăm sóc, tham quan một số mô hình hiệu quả từ chương trình, dự án.

Câu chuyện của ông Lực cho thấy, một chính sách hỗ trợ riêng lẻ khó tạo thành sinh kế bền vững nếu thiếu những điều kiện đi kèm. Người dân cần con giống, nhưng cũng cần vốn duy trì, kỹ thuật, thức ăn, phòng bệnh và thị trường tiêu thụ. Trong khi các nhu cầu ấy lại thường nằm ở những nhóm chính sách, dự án khác nhau.

Cần đồng bộ nguồn lực, trao quyền cho địa phương

Ông Đỗ Hữu Tùng, Chủ tịch UBND xã Sông Kôn cho biết, việc triển khai song song nhiều chương trình với quy định, định mức và cơ chế khác nhau đang tạo áp lực lớn cho cấp xã. Tại Sông Kôn, địa bàn rộng, dân cư phân tán trong khi đội ngũ cán bộ mỏng, việc lập kế hoạch, hoàn thiện thủ tục và giải ngân trở thành gánh nặng.

Theo ông Tùng, một hộ dân muốn thoát nghèo cần được hỗ trợ đồng bộ cả vốn, giống, đường vào khu sản xuất và đầu ra sản phẩm. “Vấn đề không đơn thuần là đưa thêm nguồn vốn về cơ sở, mà làm thế nào để các nguồn lực kết nối, tập trung vào những nhu cầu cụ thể của từng địa bàn. Tích hợp chương trình phải hướng tới thay đổi cách làm, phối hợp nguồn lực để giải quyết dứt điểm một vấn đề phát triển”, ông Tùng nói.

Việc tích hợp các chương trình được kỳ vọng sẽ tạo động lực để miền núi phát triển, hạn chế đầu tư dàn trải, chồng chéo. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC

Việc tích hợp các chương trình được kỳ vọng sẽ tạo động lực để miền núi phát triển, hạn chế đầu tư dàn trải, chồng chéo. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC

Bí thư Đảng ủy xã Sông Kôn Nguyễn Xuân Nghiêm nhận định, tích hợp các chương trình là hướng đi phù hợp, nhưng giá trị cốt lõi không nằm ở việc gom các nguồn vốn về một đầu mối, mà là hình thành cơ chế điều phối thống nhất.

“Cần tích hợp về quản trị nhưng không hòa tan về chính sách. Dù có nhiều mục tiêu thành phần và nhiệm vụ đặc thù, vẫn cần một cơ chế phân bổ, giám sát kết quả thống nhất”, ông Nghiêm phân tích.

Khi xây dựng cơ chế trong giai đoạn mới, nhiều ý kiến cho rằng cần đánh giá chính xác mức độ khó khăn của từng vùng sau sắp xếp đơn vị hành chính, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ngoài ra, thay vì lấy tỷ lệ giải ngân làm thước đo duy nhất, chương trình cần chuyển trọng tâm sang đánh giá bằng những kết quả thực chất mang lại cho người dân. Tiến độ dự án ở miền núi luôn chịu tác động bởi địa hình, thời tiết và cả áp lực bộ máy khi chuyển sang mô hình chính quyền 2 cấp.

Để triển khai hiệu quả, ông Nghiêm kiến nghị cần xây dựng nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Việc phân cấp phải đi cùng năng lực và nguồn lực thực hiện. Đối với các xã miền núi có nhu cầu đầu tư lớn, cần có tiêu chí phân cấp rõ ràng, đồng thời ưu tiên nguồn lực để tạo ra những thay đổi cụ thể trên địa bàn.

ALĂNG NGƯỚC

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/thay-doi-cach-thuc-phan-bo-nguon-luc-3350921.html