Thảo thơm trà Thái
Trên dọc dài đất nước Việt Nam, cây chè có mặt ở hầu khắp các tỉnh, thành phố. Chè được trồng nhiều nhất ở các tỉnh thuộc khu vực trung du - miền núi phía Bắc và rải rác ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, đồng bằng Bắc Bộ - Bắc Trung Bộ. Thái Nguyên là một trong những tỉnh có diện tích chè lớn nhất cả nước, với hơn 24.000ha. Chè Thái mang hương vị đặc biệt, nên từ trăm năm nay, Thái Nguyên được gắn với thương hiệu 'Đệ nhất danh trà'.

Thu hái chè đổi công, một nét đẹp văn hóa trong đời sống lao động của nông dân vùng chè xã Văn Hán.
Chắt gạn tinh túy đất, trời
Chè ngon nhất, nổi tiếng nhất trên cả nước vẫn là chè Thái Nguyên. Vùng chè mang câu chuyện huyền thoại về tình yêu đôi lứa thủy chung của chàng Cốc, nàng Công. Và câu chuyện truyền thuyết về một người phụ nữ nhân hậu, thủy chung thờ chồng, nuôi con. Nhờ có tấm lòng “Bồ Tát”, người phụ nữ ấy đã cứu sống bà con dân bản trong cơn đại hồng thủy. Dấu tích còn lại trên đại ngàn Việt Bắc là hồ Ba Bể ngày nay.
Những hồ nước tự nhiên và hồ nhân tạo trên vai núi tỉnh Thái Nguyên mang màu xanh ngọc bích. Lòng thăm thẳm sâu nhưng bao dung, độ lượng cùng dòng nước sông Cầu, sông Công uốn lượn giữa đại ngàn và phố phường đã tắm tưới cho bãi bờ sản sinh ra cây chè. Loại cây có sức sống mạnh mẽ, lặng lẽ chắt gạn từ lòng đất và khí trời vị tinh túy, tạo nên hương, vị thanh tao hiến tặng cho con người.
Cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, lòng người hồn hậu và trà thơm đã làm mê đắm lòng người. Điều đặc biệt là trên rộng dài đất nước cây chè mọc xanh tốt ở nhiều vùng đất khác nhau, nhưng giữa lòng Việt Bắc, nơi cửa ngõ từ thủ đô Hà Nội lên các tỉnh vùng Đông Bắc Tổ quốc được sở hữu loại chè ngon nhất Việt Nam.
Bởi khí hậu, đất đai giao hòa và lòng người hồn hậu đã làm cây chè sản sinh được hương, vị độc đáo, vượt trội hơn so với các vùng chè trên cả nước. Một thứ trà khi cho vào ấm thấy vị cốm thơm của lúa nếp nương. Rót ra chén có màu xanh sóng sánh của ngọc lam. Đặt chớm môi cảm nhận được vị chát, đắng theo đầu lưỡi vào huyết quản, rồi từ đó dư vị ngọt lan tỏa ngược trở ra.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hải, Chủ tịch Hội chè xã La Bằng (ngoài cùng bên trái) kể cho du khách nghe câu chuyện xây dựng thương hiệu chè của nông dân trong vùng.
Hằng trăm năm nay cây chè đã gắn bó với đời sống con người. Sự gắn bó ấy được minh chứng bằng việc người dân trong vùng lấy lá về đun ước uống, rồi tìm tòi, sáng tạo cách chế biến từ đơn giản đến công nghệ hiện đại. Từ một thức uống thông thường đến đặc sản vùng miền. Ngày xưa người trong vùng hái lá chè mang phơi, cất, nấu nước uống dần. Khi người dân biết thu hái búp non mang về sao khô trên chảo gang, thì đó là một phát minh lớn làm thay đổi tư duy sản xuất, chế biến của ngành chè.
Nông dân các vùng chè liên tục cải tiến cách chế biến, như việc thay chảo gang bằng tấm tôn phẳng, rồi máy tôn quay bằng sức người, sau nữa được cải tiến thêm mô tơ kéo. Rồi máy vò chè chạy điện đã thay thế cách làm thủ công. Máy móc, công nghệ đã giúp người trồng chè bớt đổ mồ hôi. Nhưng có lẽ với người sành trà, ấm trà ngon nhất, mang nhiều dư vị cuộc đời nhất vẫn là ấm chè được chế biến trên chiếc chảo gang truyền thống, bắt đầu từ công đoạn làm héo, làm khô đến lên hương cho chè.
Hương vị đặc biệt
Cũng bởi thứ trà thơm ngon thuộc diện “đệ nhất” cả nước, nên đã là người Thái Nguyên, có mấy ai không tự hào về cây chè của quê hương mình. Dù đi tới chân trời, góc bể, người Thái Nguyên thường mang theo ấm trà đãi bạn tứ phương. Nhẩn nha uống trong đêm hội, bạn bè người tỉnh ngoài chợt bật lên câu hát về chuyện tình nàng Công, chàng Cốc...
Tình yêu của con người dành cho nhau và dành cho thiên nhiên, cụ thể hơn thì đó là tình yêu của người Thái Nguyên dành cho cây chè. Minh chứng tình yêu ấy được trải nghiệm từ hàng trăm năm nay, qua bao phen “vật đổi sao dời”, người Thái Nguyên vẫn gắn bó với cây chè như bạn tri âm, tri kỷ và bằng cả máu thịt, tâm hồn. Cả thời đoạn ngăn sông, cấm chợ, nông dân Thái Nguyên chưa sống được nhờ nguồn thu từ cây chè. Song chưa bao giờ người Thái Nguyên buông bỏ, mà vẫn luôn lặng thầm đeo mang, lựa thế đất, thế đồi để ươm lên mầm xanh, tạo thành những vùng chè đầy sức sống.
Đất nước hội nhập thế giới, cây chè như người nằm ngủ lâu ngày, bật dậy, nhanh chóng trở thành một hàng hóa mang lại thu nhập cao cho người lao động. Bởi thế, từ những năm 1990 trở lại đây, cây chè được các cấp, ngành quan tâm đầu tư. Trực tiếp là người nông dân đã dành hầu hết những khu đồi đất hoang hóa, hoặc chuyển đổi vườn cây có giá trị kinh tế thấp sang trồng chè. Đến nay trên toàn tỉnh bà con nông dân đã trồng được hơn 24.000ha chè, trong đó có 23.000ha chè kinh doanh.

Toàn tỉnh hiện có 207 sản phẩm chè sau chế biến được chứng nhận OCOP từ 3-5 sao. (Ảnh chụp tại HTX nông sản Phú Lương, xã Hợp Thành).
Hiện chè Thái Nguyên được chế biến chè theo 3 hình thức: Chế biến thủ công; chế biến công nghiệp và chế biến công nghệ cao, nhưng phổ thông hơn vẫn là chế biến bán công nghiệp. Bởi chè được ví như loại sản phẩm hàng hóa đặc biệt, phải có đôi bàn tay khéo léo của nghệ nhân mới tạo được sản phẩm tinh tế.
Khoảng trước năm 2000, nông dân vùng chè Thái Nguyên có sản phẩm chủ lực là chè móc câu đựng túi bóng. Đến nay bà con sáng tạo ra khoảng hơn 1.000 sản phẩm chè khác nhau. Chè được đóng gói bằng máy có hút chân không, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong đó có 207 sản phẩm chè sau chế biến được chứng nhận OCOP từ 3-5 sao.
Coi trọng chất lượng của chè là đỉnh cao của người Thái Nguyên làm thương hiệu. Chính vì thế du khách trong, ngoài nước đến Thái Nguyên, trong lúc thưởng trà còn được nghe tích chuyện về “hồ trên núi, trà trong mây”. Tất cả quyện hòa, sóng sánh và gói lại trong ấm trà là sự thảo thơm của một vùng đất.































