Tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển nuôi biển
Tham dự hội nghị Giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi biển tại Khánh Hòa do Trung tâm Khuyến nông tỉnh tổ chức sáng 14-7, nhiều chuyên gia, tổ chức, người nuôi biển trong tỉnh đã có nhiều ý kiến nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển nuôi biển của tỉnh theo quy mô công nghiệp, hiện đại.
* Bà NGUYỄN THỊ PHỈ - Phó Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam:
CẦN CẤP “SỔ XANH” XÁC NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG BIỂN LÂU DÀI CHO TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NUÔI BIỂN

Trong phát triển nuôi biển hiện nay, “nút thắt” lớn nhất là việc giao khu vực biển để doanh nghiệp, tổ chức đầu tư phát triển nuôi biển công nghiệp. Theo quy định hiện hành, dự án có đề nghị giao khu vực biển phải được chấp thuận chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, để được chấp thuận chủ trương đầu tư, doanh nghiệp phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng khu vực biển; trong khi để được giao khu vực biển, hồ sơ lại yêu cầu phải có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư. Đây là vòng luẩn quẩn khiến cho hoạt động đầu tư của các tổ chức, doanh nghiệp vào nuôi biển đứng yên tại chỗ.
Để tháo gỡ “nút thắt” này, cần phải có quy hoạch khu vực nuôi biển đồng bộ; xây dựng cơ chế chính sách để đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian trong cấp “sổ xanh” xác nhận quyền sử dụng khu vực biển lâu dài (tương tự “sổ đỏ” đối với đất đai) để các tổ chức, doanh nghiệp yên tâm đầu tư phát triển nuôi biển công nghiệp lâu dài. Khi được giao, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển, tổ chức và cá nhân sẽ có cơ sở pháp lý để thế chấp, chuyển nhượng, góp vốn hoặc huy động vốn đầu tư. Điều cốt lõi là khi người dân và doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển thì quyền tài sản phải được pháp luật bảo đảm đầy đủ tương tự như “sổ đỏ” ở trên đất liền.
Để thu hút đầu tư vào lĩnh vực nuôi biển, tỉnh cần triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển nuôi trồng thủy sản trên phạm vi vùng biển tỉnh quản lý theo Nghị quyết số 55 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Khánh Hòa; chú trọng việc hình thành các chuỗi liên kết ngành hàng trong nuôi biển, trong đó xác định vai trò đầu tàu của doanh nghiệp trong chuỗi, từ đó có cơ chế hỗ trợ vay ưu đãi có điều kiện để doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu sản phẩm, ổn định đầu ra cho người nuôi. Đồng thời, có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp về giá thuê đất phục vụ hậu cần nuôi biển; có chính sách về bảo hiểm trong nuôi biển...
* Phó Giáo sư, Tiến sĩ NGÔ VĂN MẠNH - Khoa Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nha Trang:
CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ BIỂN THƯƠNG PHẨM

Hiện nay, ngành nuôi biển tại Khánh Hòa đang phát triển theo kiểu tự phát, thiếu quy hoạch, tập trung ở vùng biển ven bờ và trong các đầm, vịnh với mật độ cao, để lại nhiều hệ lụy, chịu nhiều bất lợi do thời tiết cực đoan gây nên. Vì vậy, trong định hướng phát triển nuôi biển thương phẩm quy mô công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao cần chú trọng nuôi cá biển trên các vùng biển sâu và hở với công nghệ tiên tiến, hiện đại. Các đối tượng nuôi phù hợp cho nuôi cá biển công nghiệp là cá chẽm, cá chim vây vàng, cá hồng Mỹ, cá bè..., đây là những loài có giá trị kinh tế, có lợi thế cạnh tranh, thị trường tiêu thụ lớn, đồng thời cho ăn bằng thức ăn công nghiệp, kỹ thuật nuôi được chủ động, nguồn giống chất lượng cao và ổn định.
Bên cạnh việc sử dụng lồng nuôi vật liệu mới, để phát triển hiệu quả mô hình nuôi cá biển công nghiệp cần chú trọng ứng dụng các công nghệ cao để nâng cao hiệu quả trong suốt quá trình nuôi như: Cho ăn tự động bằng cách sử dụng máy rải thức ăn thông minh điều khiển từ xa hoặc tự động hóa dựa trên cảm biến để tránh thất thoát và giảm thiểu ô nhiễm môi trường; sử dụng camera giám sát để theo dõi hành vi, sức khỏe của đàn cá dưới nước; ứng dụng chuyển đổi số và các phần mềm quản lý để giám sát toàn diện quá trình nuôi...
* Ông ĐỖ TRỌNG TRÍ - người nuôi cá biển bằng lồng HDPE tại vùng biển Trí Nguyên (phường Nha Trang):
NGƯỜI NUÔI CẦN THÊM SỰ HỖ TRỢ

Với sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông tỉnh, gia đình tôi và 3 hộ dân khác ở phường Nha Trang đã tham gia mô hình nuôi cá mú trân châu bằng lồng HDPE thích ứng với biến đổi khí hậu gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm. Mỗi hộ được hỗ trợ 50% kinh phí đầu tư 2 lồng vuông HDPE, con giống, thức ăn công nghiệp và một số vật tư thiết yếu khác để nuôi 2.400 con cá mú trân châu. Qua 10 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng trung bình 1,1kg/con, tỷ lệ sống đạt khoảng 70%.
Hiệu quả nuôi biển bằng lồng HDPE đã được chứng minh nên người nuôi rất yên tâm về khả năng thích ứng với điều kiện thời tiết khắc nghiệt và hiệu quả đầu tư. Tuy nhiên, người nuôi vẫn còn nhiều nỗi lo, nhất là kinh phí đầu tư cao, đầu ra chưa ổn định. Chúng tôi mong muốn, trong thời gian tới tỉnh sẽ triển khai hiệu quả chính sách hỗ trợ chuyển đổi phương thức nuôi biển bằng lồng gỗ truyền thống sang lồng bằng vật liệu mới HDPE thích ứng với biến đổi khí hậu; nghiên cứu thêm các công trình phụ trợ như nhà nổi làm kho chứa thức ăn, khu vực sinh hoạt trên bè bằng vật liệu HDPE thay vì vật liệu gỗ như hiện nay. Chúng tôi cũng mong muốn các cấp, ngành nghiên cứu, sản xuất thức ăn, con giống đảm bảo chất lượng để phục vụ nuôi biển thương phẩm; hỗ trợ thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã nuôi biển để liên kết các hộ nuôi với các doanh nghiệp lớn, có kinh nghiệm, tiềm lực nhằm hình thành các chuỗi liên kết, ổn định đầu ra cho người nuôi…





























