Tháo gỡ 'điểm nghẽn' trong cấp nước sinh hoạt vùng nông thôn

Những năm qua, trên địa bàn cả nước đã xây dựng được hàng chục nghìn công trình cấp nước tập trung giúp gần 70% số hộ dân nông thôn sử dụng nước đạt quy chuẩn. Tuy nhiên, hiện nay nhiều công trình hoạt động kém hiệu quả cho nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến hàng trăm nghìn hộ dân.

Công nhân Nhà máy nước An Bình (Hải Phòng) vệ sinh bể lắng. (Ảnh: BẢO HÂN)

Công nhân Nhà máy nước An Bình (Hải Phòng) vệ sinh bể lắng. (Ảnh: BẢO HÂN)

Theo thống kê của Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hiện nay trên địa bàn cả nước đơn vị sự nghiệp quản lý vận hành 1.700 công trình, doanh nghiệp, tư nhân 2.900 công trình, ủy ban nhân dân xã 5.700 công trình, cộng đồng 7.400 công trình…

Nhiều công trình kém hiệu quả, không hoạt động

Phó Trưởng phòng Quản lý Nước sạch nông thôn, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi Giáp Mai Thùy cho biết: “Đến nay, cả nước đã xây dựng được 18.109 công trình cấp nước tập trung góp phần đưa tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước đạt quy chuẩn lên 68%”.

Mặc dù vậy, hiện nay chỉ có 32% số công trình hoạt động bền vững, 26,3% hoạt động tương đối bền vững, 41,7% kém bền vững và không hoạt động. Điều đáng nói, số công trình kém bền vững và không hoạt động này đang ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn nước đạt quy chuẩn của 200.000 hộ dân. Các công trình này phần lớn là do ủy ban nhân dân xã, cộng đồng quản lý và được đầu tư trước năm 2010.

Đến nay, cả nước đã xây dựng được 18.109 công trình cấp nước tập trung góp phần đưa tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước đạt quy chuẩn lên 68%. Mặc dù vậy, hiện nay chỉ có 32% số công trình hoạt động bền vững, 26,3% hoạt động tương đối bền vững, 41,7% kém bền vững và không hoạt động.

Phó Trưởng phòng Quản lý Nước sạch nông thôn,

Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi Giáp Mai Thùy

Thực tế ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, một số nơi việc đầu tư công trình cấp nước gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn nước ngọt, chi phí cao và giá thành lớn, dân cư sinh sống phân tán cho nên vẫn còn hàng nghìn hộ khó tiếp cận nước ở các công trình tập trung.

Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền nam Phạm Văn Mạnh cho biết, tại khu vực này việc cấp nước sạch nông thôn hiện còn nhiều bất cập do khâu quản lý quy hoạch ở nhiều địa phương chưa đồng bộ; một số nơi do đô thị hóa nhanh khiến hệ thống cấp nước không theo kịp nhu cầu. Hơn nữa, một số địa phương chưa xây dựng phương án tổng thể cho cấp phép khai thác, dẫn đến khó khăn trong điều hành khi hạn hán, xâm nhập mặn diễn biến phức tạp. Thí dụ giai đoạn năm 2015-2016, hạn hán và xâm nhập mặn đã khiến hơn 200.000 hộ dân ở khu vực này thiếu nước sinh hoạt.

Sau sáp nhập, toàn tỉnh An Giang có 238 công trình cấp nước tập trung, cấp nước cho 665.160 hộ dân. Tuy nhiên, tổ chức bộ máy sau sáp nhập chưa ổn định, thiếu sự phối hợp trong giải quyết các vấn đề liên quan đến giải phóng mặt bằng dẫn đến công trình thi công chậm tiến độ; thủ tục xin cấp phép khoan thăm dò, khai thác nước dưới đất cho cấp nước sinh hoạt nông thôn gặp nhiều vướng mắc; thiếu cán bộ chuyên trách về nước sạch và môi trường tại cấp xã.

Ứng dụng chuyển đổi số trong cấp nước

Phó Cục trưởng Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi Lương Văn Anh cho rằng: “Trong số những công trình cấp nước đã được đầu tư thì có đến hơn 6.000 công trình quy mô nhỏ; nhiều công trình hình thành bằng cách đắp suối, dẫn nước qua đường ống cho nên chất lượng chưa bảo đảm. Bên cạnh đó, tỷ lệ số hộ sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tập trung thấp với 55,1% và có sự chênh lệch lớn giữa các vùng. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Hồng là 75,1%, Đồng bằng sông Cửu Long 72,0%, miền núi phía bắc 17,7%, khu vực Tây Nguyên chỉ 12,7%”.

Nguyên nhân là do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa hoàn thiện, bị điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nên bị phân tán, thiếu đồng bộ. Mô hình do ủy ban nhân dân xã, cộng đồng quản lý khai thác chiếm tỷ lệ lớn với 72,5% trong khi trình độ, năng lực quản lý khai thác hạn chế và kinh phí để nâng cấp, sửa chữa công trình không đủ”.

Chuyển đổi số sẽ giúp tăng hiệu quả quản lý, vận hành công trình cấp nước, nâng chất lượng dịch vụ. Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi đã tham mưu Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai ứng dụng công nghệ số quá trình quản lý, vận hành công trình cấp nước. Từ đó, hệ thống dữ liệu được cập nhật đồng bộ, liên tục ở các nhà máy, trạm cấp nước đến đơn vị quản lý nhằm giám sát hiệu quả hoạt động, nhất là khi thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn xảy ra.

Phó Giám đốc Trung tâm Nước sạch nông thôn tỉnh Vĩnh Long Châu Văn Tùng chia sẻ, hiện nay Trung tâm quản lý vận hành 237 công trình cấp nước tập trung với tổng công suất khai thác 237.400 m3/ngày, đêm, cấp nước sạch cho khoảng 482.236 khách hàng. Một số trạm cấp nước công suất lớn, bước đầu đã đầu tư hệ thống giám sát, quan trắc chất lượng nước, điều khiển tự động hệ thống bơm điện, ứng dụng một số công nghệ hiện đại và tự động hóa.

Thời gian tới các bộ, ngành, địa phương cần đầu tư xây dựng công trình cấp nước tập trung quy mô lớn, đồng bộ bảo đảm hoạt động hiệu quả; ưu tiên đầu tư công trình ở khu vực khan hiếm nguồn nước, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, vùng sâu, xa, bãi ngang, ven biển...

Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi

Trong Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, phấn đấu đến năm 2045 cả nước có 100% số người dân nông thôn được sử dụng nước sạch và vệ sinh an toàn, bền vững. Để đạt được mục tiêu đó, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi cho rằng, thời gian tới các bộ, ngành, địa phương cần đầu tư xây dựng công trình cấp nước tập trung quy mô lớn, đồng bộ bảo đảm hoạt động hiệu quả; ưu tiên đầu tư công trình ở khu vực khan hiếm nguồn nước, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, vùng sâu, xa, bãi ngang, ven biển... Phát triển các loại hình thu, trữ, xử lý nước an toàn hộ gia đình tại các khu vực khó tiếp cận công trình cấp nước tập trung; khuyến cáo người dân sử dụng nước tiết kiệm, an toàn; quản lý khai thác, vận hành hiệu quả công trình sau đầu tư.

Đặc biệt cần hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý cấp nước sạch theo chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, tiếp tục rà soát, đánh giá hiện trạng quản lý khai thác công trình để giao cho các đơn vị có đủ năng lực quản lý vận hành; thanh lý, xử lý dứt điểm công trình hoạt động kém hiệu quả và ngừng hoạt động...

NGUYÊN PHÚC

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/thao-go-diem-nghen-trong-cap-nuoc-sinh-hoat-vung-nong-thon-post926675.html