TFP: 'Động cơ thầm lặng' cho mô hình tăng trưởng mới
Sau gần 40 năm đổi mới, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và khai thác nguồn lực đang dần bộc lộ những giới hạn. Khi dư địa tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng thu hẹp, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) được kỳ vọng trở thành một trong những động lực quan trọng giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, đồng thời nâng chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn tới.

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, TFP đóng góp trên 55% vào tăng trưởng GDP. Ảnh: THÙY ANH
TFP từng bước được cải thiện…
Nền kinh tế Việt Nam dù đạt nhiều thành tựu nhưng đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức nội tại. Các động lực tăng trưởng cũ không còn đủ dư địa để mang lại tốc độ tăng trưởng hai con số như kỳ vọng trong giai đoạn 2026-2030 và xa hơn. Dư địa tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng thu hẹp, chi phí vốn có xu hướng gia tăng, trong khi lợi thế về lao động giá rẻ dần suy giảm. Trong khi đó, giai đoạn 2026-2030, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên.
Để nâng cao chất lượng tăng trưởng, mục tiêu đóng góp của TFP được nâng lên mức trên 55% (so với khoảng 47-48,6% hiện nay). Hiểu đơn giản, TFP phản ánh mức độ hiệu quả trong sử dụng các yếu tố đầu vào của nền kinh tế, gắn với tiến bộ công nghệ, đổi mới tổ chức sản xuất, nâng cao năng lực quản trị và chất lượng nguồn nhân lực. Khi TFP tăng, cùng một lượng nguồn lực đầu vào có thể tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn.
Theo phân tích của TS. Cấn Văn Lực, TFP ngày càng giữ vai trò quan trọng, phản ánh quá trình chuyển dịch từ tăng trưởng chiều rộng sang chiều sâu. Trong giai đoạn 2001-2010, TFP chỉ đóng góp 27,1% vào tăng trưởng, cho thấy nền kinh tế khi đó còn phụ thuộc lớn vào vốn và lao động. Sang giai đoạn 2011-2019, đóng góp của TFP tăng lên 39,3%. Đến giai đoạn 2020-2025, tỷ lệ này tiếp tục được cải thiện, đạt khoảng 47-48,6% vào năm 2025, tùy theo phương pháp và nguồn tính toán.
…nhưng vẫn chưa đủ lực dẫn dắt tăng trưởng
Dù đã cải thiện, tốc độ tăng TFP của Việt Nam còn thấp so với các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi. GS,TS. Ngô Thắng Lợi - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân - cho rằng thời gian qua, tốc độ tăng trưởng TFP còn rất thấp so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Nếu không đẩy nhanh tốc độ tăng TFP thì rất khó nâng tốc độ tăng trưởng chung.
Đồng quan điểm, GS,TS. Nguyễn Trọng Hoài - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh - nhấn mạnh dư địa tăng năng suất từ chuyển đổi cơ cấu kinh tế đang giảm dần. Dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo, từ nông thôn ra thành thị không còn tạo động lực mạnh như trước. Xuất khẩu tăng mạnh về quy mô trong hai thập niên qua, nhưng giá trị gia tăng tạo ra trong nước còn thấp. Giai đoạn 2010-2023, giá trị gia tăng của các ngành có thể giao thương chỉ tăng 5,4%/năm, thấp hơn mức 6,6% của các ngành không thể giao thương, trong khi việc làm trong khu vực giao thương giảm 1,4%/năm.
Để đáp ứng kịch bản cải cách và đạt mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% trong giai đoạn tới, cơ cấu đóng góp của các yếu tố tăng trưởng cần thay đổi căn bản. Theo TS. Cấn Văn Lực, với mục tiêu tăng trưởng khoảng 10%/năm, đóng góp của vốn được ước tính khoảng 45-47%, lao động khoảng 5-6%, còn TFP phải nâng lên mức 50-55%.
GS,TS. Nguyễn Trọng Hoài nhận định, để bắt kịp các nền kinh tế mới nổi, chất lượng lao động của Việt Nam phải được cải thiện với tốc độ cao gấp 3 lần, đầu tư vốn cho công nghệ tăng gấp 5 lần và tốc độ tăng TFP đạt trung bình ít nhất 2%/năm trong hai thập kỷ, thay vì mức khoảng 0,2% hiện nay.
Mức độ lan tỏa của TFP hiện chưa đồng đều khi khu vực FDI và doanh nghiệp lớn thường đi trước, trong khi phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) gặp nhiều khó khăn.
Từ các phân tích trên, có thể nhận diện 3 nhóm rào cản lớn đối với việc nâng cao TFP. Thứ nhất, thể chế và khâu thực thi còn phân mảnh, thủ tục hành chính và phối hợp liên ngành chưa thông suốt, làm gia tăng chi phí giao dịch. Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực số và năng lực quản trị dữ liệu chưa đáp ứng yêu cầu. Thứ ba, hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu chưa hoàn thiện, thiếu các chuẩn kết nối thống nhất. Đây là những yếu tố cần được cải thiện đồng thời để tạo chuyển biến thực chất về năng suất.
Khi các yếu tố vốn và lao động đã được sử dụng triệt để, chỉ có tăng năng suất mới giúp sản lượng tăng trưởng. Do đó, TFP là động lực chủ chốt trong dài hạn.
GS. Tan Swee Liang - Đại học Quản lý Singapore (SMU)
Thúc đẩy “động cơ” TFP
Để đưa TFP trở thành động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ doanh nghiệp đến chính sách vĩ mô.
Về phía doanh nghiệp - chủ thể trực tiếp tạo ra và hiện thực hóa TFP, trước hết cần tập trung vào 3 chuyển đổi chính: Công nghệ, quy trình thông qua số hóa chuỗi giá trị và tự động hóa có chọn lọc; quản trị theo hướng ra quyết định dựa trên dữ liệu; nhân lực với trọng tâm đào tạo lại, nâng cao kỹ năng số, kỹ năng quản trị thay đổi. Khu vực kinh tế tư nhân cần tăng liên kết với viện nghiên cứu, trường đại học, tham gia các chương trình R&D và tận dụng cơ chế sandbox để thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới.
Về chính sách, việc thu hút và ưu đãi đầu tư, đặc biệt là FDI, cần gắn với các kết quả có thể đo lường được như tỷ lệ nội địa hóa, mức độ chuyển giao công nghệ và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước ở các khâu có giá trị gia tăng cao. Khi FDI tích hợp sâu vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nội địa, TFP có thể được cải thiện đồng bộ về công nghệ, quy trình và năng lực quản trị.
Song song với đó, Nhà nước cần xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia theo định hướng “kết nối - mở - an toàn”, phát triển kỹ năng số, thúc đẩy các quỹ đồng tài trợ R&D công - tư và tích hợp chỉ tiêu TFP vào khung điều hành kinh tế vĩ mô.
PGS,TS. Nguyễn Ngọc Sơn - Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công (Đại học Kinh tế Quốc dân) - nhấn mạnh, chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đòi hỏi Việt Nam phải tạo ra những giá trị đặc thù do chính mình làm chủ. Bài học từ Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Singapore hay Hồng Kông (Trung Quốc) cho thấy vai trò quyết định của những doanh nghiệp và thương hiệu mạnh trong các ngành công nghệ cao.
Khi thể chế thông suốt, cho phép thử nghiệm, dữ liệu trở thành hạ tầng và doanh nghiệp liên tục đo lường, cải tiến quy trình, TFP sẽ có điều kiện trở thành “động cơ thầm lặng” của tăng trưởng. Vấn đề không chỉ là đầu tư thêm cho công nghệ hay R&D, mà quan trọng hơn là biến những nguồn lực đó thành năng suất thực tế trong từng doanh nghiệp, từng ngành và toàn nền kinh tế. Đây là nền tảng để Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ dựa nhiều vào huy động nguồn lực sang nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, thúc đẩy năng suất và gia tăng giá trị, qua đó tạo động lực thực hiện các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045./.

